13:40 ICT Chủ nhật, 23/07/2017
Nếu số phận chia cho bạn những quân bài xấu, hãy để sự khôn ngoan biến bạn thành những người chơi giỏi

Hội LHPN tỉnh Bình Phước

PHONG TRÀO PHỤ NỮ BÌNH PHƯỚC TRONG THỜI KỲ
ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
SAU NGÀY TÁI LẬP TỈNH (1997 - 2005)

 

I. Củng cố tổ chức hội và phong trào góp phần khắc phục khó khăn của những năm đầu tái lập tỉnh (1997 - 2001)

Công cuộc đổi mới đất nước trải qua hơn 40 năm và đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa về mọi mặt, tạo ra những tiền đề cần thiết cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước giai đoạn tiếp theo. Trong bối cảnh đó, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn vững vàng kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, tiếp tục sự nghiệp đổi mới. Từ ngày 22/6/1996 đến ngày 1/7/1996, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng họp tại Hà Nội và thành công rực rỡ. Đại hội đã đánh giá thành tựu 10 năm đổi mới (1986 - 1996), đề ra phương hướng, nhiệm vụ đổi mới toàn diện trong giai đoạn tiếp theo. Đại hội khẳng định tiếp tục sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Căn cứ vào yêu cầu khách quan đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, căn cứ vào nguyện vọng của nhân dân trong tỉnh; thực hiện Nghị quyết của kỳ họp lần thứ 10 (từ ngày 15/10 đến ngày 12/11/1996), Quốc hội khóa IX quyết định điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh. Trong đó, tỉnh Sông Bé tách ra thành hai tỉnh là Bình Phước và Bình Dương. Sau 20 năm hợp nhất, tỉnh Bình Phước được tái lập vào ngày 1/1/1997, tỉnh Bình Phước đi vào hoạt động theo đơn vị hành chính mới.
Sau khi tái lập, tỉnh Bình Phước có diện tích tự nhiên 6. 855,99 km2, dân số 851.802 người, mật độ trung bình dân số 84,89 người/km2, gần 5 huyện phía Bắc tỉnh Sông Bé: Đồng Phú, Bù Đăng, Phước Long, Bình Long và Lộc Ninh, với 64 xã, thị trấn. Ngày 1/9/1999, Chính phủ ban hành Nghị định số 90/NĐ - CP thành lập thị xã Đồng Xoài trên cơ sở các xã, thị trấn của huyện Đồng Phú. Tiếp đó, ngày 20/2/2003, Chính phủ ra Nghị định số 17/NĐ - CP về việc thành lập huyện Chơn Thành và Bù Đốp trên cơ sở tách một số xã, thị trấn các huyện Bình Long và Lộc Ninh. Đến năm 2005, Bình Phước đã có 8 huyện, thị và 94 xã, phường, thị trấn.
Việc tách tỉnh nhằm tạo điều kiện thuận lợi, đồng thời khai thác được tiềm năng thế mạnh và phát huy được nội lực của cả địa bàn Bình Dương, Bình Phước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tỉnh Bình Phước có điều kiện phát huy những ưu thế sẳn có để sớm trở thành một tỉnh giàu mạnh về mọi mặt. Đây là sự kiện có ý nghĩa lịch sử trong đời sống chính trị của Đảng bộ, nhân dân Bình Phước nói chung và phong trào phụ nữ trong tỉnh nói riêng.
Sau khi tách tỉnh, về cơ  cấu tổ chức, căn cứ vào các văn bản chỉ đạo của Trung ương và sự thống nhất của Tỉnh ủy, tháng 1/1997, Đoàn Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam có quyết định thành lập Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Bình Phước và chỉ định Ban Chấp hành lâm thời gồm... đồng chí. Đồng chí Nguyễn Thị Đào được chỉ định làm Chủ tịch và chính thức ngày 1/1/1997 đi vào hoạt động theo đơn vị hành chính mới, gồm 5 huyện Hội đó là: Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Đồng Phú, Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Bù Đăng, Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Phước Long, Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Bình Long, Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Lộc Ninh. Đến năm 2000 thành lập Hội Liên hiệp phụ nữ thị xã Đồng Xoài, năm 2003 thành lập thêm Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Chơn Thành và Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Bù Đốp gồm có 94 cơ sở hội phụ nữ xã, phường, thị trấn.
Từ khi thành lập, Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Bình Phước bước vào hoạt động của một tỉnh với nhiều khó khăn, thách thức. Một trong những tỉnh nghèo của cả nước, đời sống nhân dân trong tỉnh gặp rất nhiều khó khăn, GDP bình quân gần 180 USD người/ năm; cơ sở vật chất nghèo nàn lạc hậu, cán bộ các ngành ở tỉnh thiếu trầm trọng, kinh tế chủ yếu là nông - lâm nghiệp chiếm hơn 70%, còn thương nghiệp, công nghiệp, dịch vụ quá nhỏ bé; cơ sở hạ tầng thấp kém chưa đồng bộ, di dân tự do ngày càng đông, đồng bào dân tộc chiếm 20%. Với trình độ dân trí còn quá thấp, đời sống phụ nữ còn rất khó khăn, tỷ lệ đói nghèo cao, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn cao so với cả nước, nguồn ngân sách không đáp ứng nhu cầu chi thường xuyên, nhất là vốn đầu tư phát triển thiếu nghiêm trọng. Tỉnh có 240 km đường biên giới giáp với Campuchia, tình hình diễn biến rất phức tạp. Bên cạnh đó, khi cơ quan chuyển tỉnh lỵ đóng ở thị trấn Đồng Xoài - Đồng Phú, nơi ăn, ở và làm việc còn tạm bợ, cuộc sống, gia đình của nhiều chị em khá vất vả, đội ngũ cán bộ sắp xếp vào bộ máy mới chỉ ¼ so với yêu cầu biên chế. Những khó khăn, thách thức đó đặt ra cho Đảng bộ nhân dân Bình Phước nói chung và phụ nữ nói riêng một trách nhiệm hết sức nặng nề. Tuy vậy, lúc khó khăn thử thách, cũng là lúc chị em phụ nữ thể hiện được ý chí nghị lực, thể hiện niềm tin vào đường lối chính sách của Đảng, đặc biệt số chị em cán bộ tỉnh hội được phân công lên Bình Phước có quyết tâm cao tạo khí thế mới và biết thương yêu đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau, nỗ lực ổn định tổ chức, kiện toàn bộ máy cán bộ chuyên trách tỉnh hội và các cấp hội, nhằm thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền bình đẳng, dân chủ và quyền lợi hợp pháp của phụ nữ; triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và 5 chương trình trọng tâm của Hội đạt hiệu quả, dấy lên nhiều phong trào thi đua sôi nỗi, rộng khắp, góp phần tích cực vào xây dựng tỉnh Bình Phước từng bước đi vào ổn định và phát triển.
Tháng 4/1997, Đại hội phụ nữ tỉnh Bình Phước lần thứ VI được tổ chức. Căn cứ vào mục tiêu của phong trào phụ nữ, mục tiêu kinh tế của tỉnh nhà, Đại hội đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ, phát huy tiềm năng của phụ nữ trên mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội với mục tiêu:
- Đoàn kết rộng rãi các tầng lớp phụ nữ, phát huy mọi tiềm năng, sức sáng tạo tinh thần tự lực tự cường, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho phụ nữ góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội mà Đại hội tỉnh Đảng bộ đề ra.
- Đẩy mạnh phong trào rèn luyện, nhằm nâng cao kiến thức mọi mặt cho phụ nữ, phấn đấu vì sự bình đẳng và tiến bộ của phụ nữ.
- Giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc.
- Củng cố lực lượng hoạt động hội, phát triển hội viên, xây dựng tổ chức hội ngày càng vững mạnh nhằm phát huy vai trò đại diện chăm lo bảo vệ quyền lợi chính đáng hợp pháp của phụ nữ.
Để lãnh đạo phong trào phụ nữ trong tỉnh phấn đấu đạt những chỉ tiêu đó. Đại hội đã đề ra nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện 5 chương trình và 2 phong trào của Trung ương hội đề ra. Những nhiệm vụ và giải pháp cụ thể đó, Đại hội đại biểu Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh lần thứ VI đề ra và những định hướng giúp Ban Chấp hành Hội Phụ nữ khóa mới và các cấp hội trong lãnh đạo, điều hành và chỉ đạo thực tiễn. Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Hội Phụ nữ tỉnh, Ban Chấp hành họp bầu ra Ban Thường vụ. Đồng chí Nguyễn Thị Đào được bầu làm Chủ tịch Hội; Đại hội cũng bầu đại biểu đi dự Đại hội phụ nữ toàn quốc.
Ngày 19 và 20/5/1997, Đại hội đại biểu phụ nữ Việt Nam lần thứ VIII  họp tại Hà Nội. Đại hội đề ra mục tiêu: đoàn kết đổi mới vì bình đẳng, phát triển và hòa bình, vì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Để nhiệm vụ của hội trong gia đình cách mạng mới phù hợp với nhiệm vụ kinh tế - xã hội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng. Đồng thời căn cứ vào chức năng và khả năng hoạt động thực tế của các cấp hội, 5 chương trình trọng tâm của hội nhiệm kỳ VII tiếp tục được thực hiện nhưng ở mức cao hơn, là sự thừa kế và phát triển trong điều kiện, hoàn cảnh thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đồng thời phát động phong trào phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình hạnh phúc, tiếp tục thực hiện phong trào “Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình”.
Bước sang giai đoạn 1997 - 2001, phong trào phụ nữ cao hơn so với những năm trước, không dừng lại ở giúp nhau làm kinh tế gia đình để ổn định cuộc sống mà là giúp nhau phát triển kinh tế gia đình để làm giàu, đáp ứng yêu cầu thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chính vì vậy mà Nghị quyết Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ VIII vẫn quyết định nội dung hoạt động của phong trào phụ nữ thực hiện trên cơ sở 5 chương trình trọng tâm như Đại hội lần thứ VII song đòi hỏi phải sâu hơn, rộng hơn. Đại hội quyết định bổ sung nội dung vào các chương trình như sau:
Chương trình 1: Giáo dục bồi dưỡng, nâng cao kiến thức trình độ và năng lực cho phụ nữ.
Chương trình 2: Vận động phụ nữ nghiên cứu ứng dụng khoa học, công nghệ; hỗ trợ phụ nữ tạo việc làm tăng thu nhập.
Chương trình 3: Chăm sóc sức khỏe phụ nữ, trẻ em, thực hiện kế hoạch hóa gia đình, nuôi con tốt, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc.
Chương trình 4: Xây dựng tổ chức hội vững mạnh.
Chương trình 5: Nghiên cứu và kiểm tra giám sát.
Ngày 8/3/1998, Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam ra lời kêu gọi và phát động phụ nữ cả nước thực hành tiết kiệm, tích cực học tập, nuôi con tốt. Đoàn Chủ tịch Trung ương hội phát động 2 phong trào:
1. Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình cần kiệm xây dựng đất nước.
2. Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình hạnh phúc.
Thực hiện triển khai Nghị quyết Đại hội Hội Liên hiệp phụ nữ toàn quốc lần thứ VIII, Nghị quyết Đại hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh lần thứ VI, cùng với phong trào phụ nữ cả nước, các tầng lớp phụ nữ trong tỉnh luôn tin tưởng vào đường lối đổi mới của Đảng, hưởng ứng các phong trào hành động cách mạng do Trung ương hội phát động, các cấp hội đã năng động sáng tạo, đổi mới phương thức hoạt động, vừa chăm lo thiết thực tới lợi ích của phụ nữ, vừa giáo dục động viên chị em thực hiện tốt 2 phong trào và 5 chương trình công tác trọng tâm do Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ VIII và Đại hội phụ nữ Bình Phước lần thứ VI đề ra.
Trên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, với sự đóng góp to lớn của phụ nữ nông thôn, một lực lượng chiếm gần 70% trên tổng số phụ nữ trong tỉnh. Mặc dù phải đứng trước những vấn đề rất khó khăn như: về kinh tế, thiếu vốn, giá cả nông sản không ổn định, thêm vào đó khí hậu khắc nghiệt với những hậu quả nặng nề liên tiếp xảy ra trong nhiều năm trong phạm vi cả tỉnh. Nhưng với bản tính cần cù, tiết kiệm và bản lĩnh vượt khó chị em đã không quản ngại vất vả khó khăn để đầu tư phát triển cây cao su, tiêu, điều, cà phê... tăng năng suất cây lương thực. Chị em đã biết áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng nhiều chị làm kinh tế giỏi, tăng thu nhập gia đình, tăng nguồn lương thực thực phẩm cho xã hội.
Về công nghiệp tuy chỉ chiếm 3,5% lao động trong nền kinh tế - xã hội của tỉnh, chủ yếu công nghiệp chế biến nông sản. Nhưng lao động nữ trong ngành là 54,34%. Các chị đã khắc phục những khó khăn riêng để vượt qua những thách thức của cơ chế thị trường, chịu khó hcọ tập, nghiên cứu nâng cao trình độ chuyên môn. Qua các hội thi có 52 chị đạt danh hiệu kiện tướng trong các thợ thi giỏi trong các công ty cao su, 7 chị đạt danh hiệu “Bàn tay vàng”. Trong tỉnh có 3 giám đốc nữ đều là doanh nghiệp làm ăn phát triển.
Đối với lực lượng nữ công nhân viên chức là đội ngũ góp phần đáng kể vào nhiệm vụ hoàn thành chỉ tiêu kinh tế - xã hội trong những năm đầu mới tái lập tỉnh. Nữ công nhân viên chức tham gia thực hiện tốt phong trào phụ nữ “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”, “Nuôi con khỏe, dạy con ngoan”, “Dân số và kế hoạch hóa gia đình”. Chị em cố gắng vươn lên trong công tác, học tập, góp phần thực hiện thắng lợi 5 chương trình trọng tâm và 2 phong trào thi đua do Trung ương hội phát động. Ngoài ra, chị em đã cố gắng học hỏi kinh nghiệm, cung cách làm ăn, nhằm ổn định đời sống và phát triển sản xuất, kinh doanh, phấn đấu làm ăn có kết quả nâng cao chất lượng sản phẩm.
Trên lĩnh vực văn hóa - xã hội, chị em cũng tham gia đều khắp, góp phần quan trọng vào thành tựu chung của tỉnh. Chị em trong ngành y tế, giáo dục tuy gặp nhiều khó khăn nhưng đã đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển giáo dục và chăm lo sức khỏe cho nhân dân. Nhiều chị đã tận tâm với nghề nghiệp, đem tài năng trí tuệ của mình phục vụ nhân dân. Ngành giáo dục - đào tạo có hàng trăm giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh và toàn quốc. Đa số nữ công nhân viên chức khối hành chính sự nghiệp đã phấn đấu thi đua nâng cao chất lượng công tác và học tập rèn luyện, chị em làm khoa học kỹ thuật có nhiều nghiên cứu và ứng dụng thành công vào sản xuất, phục vụ sức khỏe và đời sống. Trong phong trào chung đó, có hàng chục đề tài khoa học và sáng kiến làm lợi cho nhà nước hàng chục triệu đồng.
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và nhà nước khuyến khích các thành phần kinh tế. Chị em tiểu thương, các doanh nghiệp nữ đã tham gia sản xuất kinh doanh trên nhiều lĩnh vực như: mở dịch vụ khách sạn, sản xuất các mặt hàng may mặc, chế biến nông sản... Để đứng vững trên thương trường có chị đã nghiên cứu thị trường mạnh dạn thay đổi mẫu mã, áp dụng kỹ thuật công nghệ mới, phát triển thêm mặt hàng mới phù hợp với nhu cầu xã hội, đưa doanh nghiệp ngày càng phát triển, đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong và ngoài nước, tiêu biểu như chị Phạm Thị Mỹ Lệ - Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Mỹ Lệ, đóng góp hàng năm vào ngân sách nhà nước hàng tỷ đồng. Nhiều doanh nghiệp nữ đã linh hoạt chuyển đổi phương thức làm ăn mới trong kinh doanh có hiệu quả trụ vững trong cơ chế thị trường. Tuy phong trào chưa phát triển đều khắp, còn gặp nhiều khó khăn, nhưng qua thực tế các chị đã tỏ rõ bản lĩnh, tài năng, nhanh nhạy thích ứng với cơ chế mới để tổ chức sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao, đóng góp đáng kể vào việc tạo thêm việc làm mới cho người lao động, tạo ra những sản phẩm có chất lượng phục vụ cho xã hội và làm giàu chính đáng.
Trên mặt trận quốc phòng - an ninh, dù hoàn cảnh nào, chị em vẫn giữ vững truyền thống tốt đẹp bộ đội cụ Hồ “Trung với nước, hiếu với dân”, khắc phục khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Chị em các đồng bào dân tộc luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, khắc phục khó khăn. Đời sống của đại đa số đồng bào dân tộc được nâng lên, một bộ phận vươn lên khá giả, so với năm 1997 đến năm 2002 số hộ nghèo còn 19,13%, giảm 20,65%. Tỷ lệ hộ có nhà kiên cố và bán kiên cố là 37,5% tăng 8,15%, hộ sử dụng điện là 24,21%, tăng 20,5%; hộ sử dụng nước sạch cuối năm 2002 là 78,91%. Xây dựng khối quân dân thống nhất, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, góp phần bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới.
Bên cạnh nghĩa vụ công dân, người phụ nữ hơn ai hết còn gánh nặng trách nhiệm gia đình. Những năm qua trong cơ chế thị trường đã giúp các chị có những cơ hội, điều kiện để chị em phát triển tài năng, tự khẳng định mình vươn lên làm giàu chính đáng. Bên cạnh đó, mặt trái của cơ chế thị trường cũng rất khắc nghiệt, chị em phải đương đầu với những tệ nạn xã hội, để bảo vệ gia đình, nuôi dạy con cái tạo dựng cuộc sống gia đình ấm no, hạnh phúc và tiến bộ.
Trong nhiều năm qua, phong trào xây dựng gia đình văn hóa phát triển tương đối rộng và đi vào cuộc sống được các tầng lớp nhân dân hưởng ứng. Đến năm 2000, đã đạt được một số kết quả có 58,1% số hộ được công nhận và 348 khu đạt khu văn hóa, hàng ngàn gia đình đã đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa mới là sự minh chứng cụ thể những nỗ lực và công lao to lớn của chị em trong việc xây dựng gia đình.
Hưởng ứng 2 phong trào “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình hạnh phúc”, “Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình, cần kiệm xây dựng đất nước” do Trung ương hội phát động được mọi tầng lớp phụ nữ hưởng ứng mạnh mẽ tại Đại hội Hội Liên hiệp phụ nữ Bình Phước đã phát động phong trào thi đua sôi nổi và đã tạo thành một không khí thi đua mạnh mẽ giữa các địa phương, đơn vị vì nội dung của hai phong trào này rất thiết thực, phù hợp với yêu cầu của công cuộc đổi mới . Trong chỉ đạo phong trào hội đã chú trọng đến hiệu quả, hướng các hoạt động của mọi tầng lớp phụ nữ thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương.
Gắn liền với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư” Hội đã đẩy mạnh phong trào phụ nữ thực hiện các chương trình giáo dục, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, năng lực cho chị em nhằm chuyển biến về nhận thức, về các mặt trong cuộc sống xã hội. Chương trình “Chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ - trẻ em, thực hiện kế hoạch hóa gia đình, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình hạnh phúc” được các cấp Hội Phụ nữ đặc biệt quan tâm. Vai trò phụ nữ trong việc thực hiện các chương trình xã hội ngày càng được khẳng định. Nhiều hình thức hoạt động rất có hiệu quả như: câu lạc bộ “Sức khỏe sinh sản”, câu lạc bộ “Phụ nữ không sinh con thứ 3”, tư vấn nhóm tổ, tổ chức các hội thi. Nhiều chương trình thi đua ngắn ngày như: “Tháng vệ sinh môi trường”, “Tháng hành động vì trẻ em”, “Ngày vì người nghèo”...
Trong lĩnh vực đào tạo nghề và giới thiệu việc làm, Hội Phụ nữ giúp đỡ giới thiệu việc làm trong các công ty - xí nghiệp. Trung tâm dịch vụ việc làm của Hội Phụ nữ đã mở nhiều lớp dạy may công nghiệp và giới thiệu việc làm tại các xí nghiệp may trên 3.000 lao động. Đặc biệt, công tác xóa đói giảm nghèo đã giúp chị em phụ nữ nghèo nâng cao vị trí của mình trong gia đình và xã hội với đồng vốn nhỏ được giúp, chị em đã sản xuất có hiệu quả tổ chức cuộc sống gia đình ngày càng tốt hơn. Đến nay tổng nguồn vốn được khai thác do hội quản lý trên 51 tỷ 867 triệu đồng giúp cho 59.019 hộ vay. Cùng với việc tạo vốn và cho vay, các cấp Hội Phụ nữ đã lồng ghép các hoạt động nâng cao trình độ quản lý vốn và áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chăn nuôi sử dụng vốn vay có hiệu quả, góp phần giảm tỷ lệ nghèo đói trong tỉnh. Hàng năm giảm 2,54% năm, trong 3 năm 1998 - 2001 đã giảm 8.622 hộ nghèo đói, giải quyết việc làm hàng năm từ 10.000 - 12.000 người; tỷ lệ người thất nghiệp giảm từ 2,26% (năm 1997) xuống còn 4,2% (năm 2000).
Phong trào của phụ nữ tỉnh Bình Phước tuy đạt được nhiều kết quả, song vẫn còn những mặt hạn chế nhất định. Tình hình đời sống phụ nữ nông thôn nhất là chị em vùng sâu, vùng xa còn nhiều thiếu thốn, thiệt thòi, vấn đề việc làm cho chị em rất khó: do trình độ thấp, lao động phổ thông là chính. Một bộ phận phụ nữ còn tự ty, an phận, thiếu phấn đấu vươn lên. Quan niệm trọng nam khinh nữ vẫn còn nặng nề ở nông thôn, các chính sách chế độ đối với lao động nữ chưa được thực hiện hay không có biện pháp để thực hiện. Bên cạnh đó vẫn còn tệ nạn ngược đãi bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình. Hiện nay phụ nữ mù chữ và tái mù chữ vẫn còn ở trong vùng đồng bào dân tộc ít người, phụ nữ nghèo; trình độ học vấn còn thấp đã làm hạn chế tiếp thu về các chủ trương, chính sách, các thông tin mới trong sản xuất, khoa học kỹ thuật, không phát triển thêm về tay nghề chuyên môn dẫn đến đời sống chị em còn nhiều khó khăn. Bên cạnh đó gánh nặng gia đình đã khiến chị em không còn thời gian để tham gia các hoạt động xã hội cũng như các cơ hội để phát triển bản thân mình.
Về vấn đề giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao nhận thức, trình độ kiến thức mọi mặt cho phụ nữ, chăm sóc sức khỏe phụ nữ - trẻ em, thực hiện dân số - kế hoạch hóa gia đình tham gia phòng chống các tệ nạn xã hội, HIV/AIDS... vận động phụ nữ tham gia thực hiện hiệu quả các chương trình văn hóa - xã hội; được các cấp hội xác định là công tác thường xuyên và là nhiệm vụ hàng đầu, nhằm giúp phụ nữ có kiến thức cần thiết, nâng cao trình độ năng lực, giữ gìn phẩm chất đạo đức truyền thống và văn hóa dân tộc, tạo điều kiện phụ nữ tham gia mọi hoạt động kinh tế - xã hội và tổ chức cuộc sống gia đình, nâng cao vị thế của phụ nữ, thực hiện nam nữ bình đẳng.
Xuất phát từ tình hình thực tế là một tỉnh sản xuất nông nghiệp có gần 70% hội viên phụ nữ nông thôn, với trình độ văn hóa còn thấp việc bồi dưỡng nâng cao trình độ kiến thức, hiểu biết cho cán bộ, hội viên phụ nữ về mọi mặt là rất cần thiết. Hội quán triệt học tập các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước của hội cấp trên. Triển khai các luật như: luật hôn nhân gia đình, luật bảo vệ chăm sóc trẻ em, luật đất đai, luật lao động, luật hình sự, công ước cedau... Đặc biệt là Nghị quyết  04 của Bộ Chính trị về “Đổi mới công tác phụ nữ trong tình hình mới” nhằm bồi dưỡng nâng cao hiểu biết cho chị em.
Hội phụ nữ tỉnh, huyện mở các lớp bồi dưỡng kiến thức về công tác hội cho các cán bộ chuyên trách, cán bộ phụ nữ dân tộc. Để tạo điều kiện cho chị em nâng cao năng lực công tác. Bên cạnh đó, Hội Phụ nữ các cấp đã chú trọng tổ chức các chuyên đề, lồng ghép các chương trình và các buổi sinh hoạt tổ, nhóm, câu lạc bộ, đẩy mạnh công tác truyền thông cuốn sách “Những điều cần cho sự sống” chuyên đề về giới, về hạnh phúc gia đình, chăm sóc sức khỏe, kiến thức về nuôi dạy con, kế hoạch hóa gia đình, phòng chống các tệ nạn xã hội trong gia đình... Ngoài những nhiệm vụ bồi dưỡng kiến thức hiểu biết cho phụ nữ, các cấp hội còn phối hợp với ngành giáo dục đào tạo tổ chức vận động xóa mù chữ cho phụ nữ vùng sâu, vùng xa.
Với phương châm đa dạng hóa hình thức, nội dung tuyên truyền, Hội đã thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như: báo, đài phát thanh truyền hình để thông tin cổ động 2 phong trào, 5 chương trình của Hội và gương phụ nữ điển hình tiên tiến... Tổ chức các hội thi, hội thảo như: “Bà mẹ nuôi dạy con giỏi”, “Cán bộ hội giỏi”, “Bữa ăn dinh dưỡng trong gia đình”..., thi tìm hiểu về “Sức khỏe sinh sản”, phòng chống các tệ nạn xã hội, liên hoan gia đình hạnh phúc, hội thi “Bàn tay vàng” trong sản xuất... Chính nhờ hình thức, hoạt động phong phú đa dạng nên đã thu hút đông đảo chị em ở các tầng lớp tham gia vào tổ chức hội, tham gia các phong trào do hội phát động một cách sôi nổi, nhiệt tình. Ngoài ra, còn các hình thức sinh hoạt truyền thống của hội được tổ chức hàng năm như ngày lễ 8/3, 20/10 đã trở thành ngày hội lớn của phụ nữ. Các cấp Hội Phụ nữ đã có những hình thức và nội dung hoạt động phong phú như mittinh, tọa đàm, gặp mặt, nói chuyện chuyên đề, giao lưu câu lạc bộ, văn hóa - văn nghệ, thể dục thể thao... Kết quả 100% các cấp hội ở cơ sở, huyện, thị, các đơn vị nữ công trong tỉnh đã tổ chức kỷ niệm rất sinh động và có nhiều sáng tạo.
Trong tình hình đất nước tiếp tục thực hiện cơ chế kinh tế thị trường, cùng với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tình hình kinh tế - văn hóa - xã hội có những chuyển biến mạnh mẽ, tạo ra môi trường thuận lợi cho phụ nữ khẳng định vai trò và năng lực của mình trong xã hội và gia đình. Song, bên cạnh đó sự tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường cũng đã làm nẩy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực trong đời sống đã ảnh hưởng đến lối sống đạo đức và phẩm chất một số người trong xã hội, trong đó có một bộ phận phụ nữ. Được sự định hướng của Trung ương hội, Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Bình Phước đã hưởng ứng cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa mới, giáo dục nâng cao trách nhiệm làm mẹ trong giai đoạn mới đã có tác động lớn, góp phần làm thay đổi nhận thức của người mẹ trong gia đình và xã hội, nâng cao tinh thần cảnh giác, phòng chống và phát hiện các tệ nạn xã hội từ trong gia đình, chống buôn bán phụ nữ - trẻ em, chống bạo lực trong gia đình. Hội cũng mở các lớp tập huấn về giới cho các ứng cử viên Hội đồng nhân dân và các vị lãnh đạo để có chuyển biến về giới, để nhìn nhận về bình đẳng giới trong thực hiện các chủ trương, chính sách.
Công tác phối hợp với các ngành chức năng như dân số - kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe ban đầu, phòng chống tệ nạn xã hội, HIV/AIDS, các bệnh xã hội, chương trình xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, vệ sinh môi trường... Đặc biệt là các chương trình quốc gia đều được Hội Phụ nữ ký kết liên tịch thực hiện có hiệu quả. Là thành viên của Ủy ban dân số - kế hoạch hóa gia đình hàng năm, Hội Phụ nữ đã tổ chức tập huấn về kỷ năng truyền thông, kỷ năng tư vấn cho cán bộ chuyên trách và 160 chủ tịch, phó chủ tịch xã, phường, thị trấn, mở lớp tập huấn về nội dung phòng chống HIV/AIDS, tổ chức các cuộc nói chuyện chuyên đề về dân số - kế hoạch hóa gia đình, các biện pháp tránh thai, sinh hoạt câu lạc bộ... Cùng với việc tuyên truyền, giáo dục Hội Phụ nữ các cấp đã chỉ đạo các hội thi như “Nữ tuyên truyền viên giỏi về dân số - kế hoạch hóa gia đình”, hội thi “Gia đình hạnh phúc”, tham gia vận động thực hiện kế hoạch hóa gia đình, là đội ngũ cán bộ Hội Phụ nữ làm công tác chuyên trách, tuyên truyền viên gồm 799 chị ở các cơ sở, các cấp hội đã chỉ đạo xây dựng các câu lạc bộ “Phụ nữ không sinh con thứ 3”, đến nay đã thành lập được 33 câu lạc bộ, 199 tổ nhóm phụ nữ không sinh con thứ 3. Tỉnh hội tiếp nhận dự án VIE/97/P02 (UNFPA) và đã thành lập được 43 câu lạc bộ “Sức khỏe sinh sản” với 1.400 thành viên tham gia. Trong nhiều năm qua, Hội Phụ nữ đã chủ động phối hợp làm tốt công tác truyền thông cũng như vận động thực hiện kế hoạch hóa gia đình góp phần hạ tỷ suất sinh trong chỉ tiêu dân số hàng năm của tỉnh từ 22,36% năm 1997 xuống còn 20,12% năm 2000.
Công tác chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ cũng được các cấp hội đặc biệt quan tâm. Vào các ngày 8/3 và 20/10, Hội đã phối hợp với Trung tâm bảo vệ bà mẹ trẻ em, tổ chức khám sức khỏe cho phụ nữ, trẻ em, phụ nữ các xã, phường, thị trấn trong tỉnh được tổ chức khám và điều trị bệnh phụ khoa. Vận động 17.237 lượt chị em đi khám thai và tiêm phòng uốn ván, nhiều chị em trong tỉnh cũng được khám và cấp thuốc miễn phí các bệnh như sốt rét, bướu cổ, lao...
Công tác phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ em cũng được đặc biệt chú trọng, Hội Phụ nữ đã cung cấp hàng ngàn cuốn sách “Những điều cần cho sự sống” đưa xuống các xã, phường, thị trấn, các câu lạc bộ, tổ nhóm của hội, cung cấp kiến thức nuôi dạy con theo khoa học cho các bà mẹ có con từ 0 - 5 tuổi. Hướng dẫn kiến thức về bữa ăn hợp lý trong gia đình, hướng dẫn chị em có con suy dinh dưỡng biết cách nấu ăn cho các cháu, Hội Phụ nữ các cấp đã phối hợp với y tế tổ chức khám định kỳ cho các cháu, tổ chức vận động các bà mẹ đưa con đi uống Vitamin A, tiêm chủng 6 bệnh nguy hiểm hàng năm, có 95% trẻ em được tiêm chủng 6 bệnh nguy hiểm. Có kế hoạch triển khai hưởng ứng phong trào trồng cây ăn quả, vườn thuốc nam, xây dựng quỹ tình thương, quỹ tuổi thơ, quỹ học bổng giúp trẻ em nghèo vượt khó, trẻ em đặc biệt khó khăn, trẻ em nghèo, trẻ em tàn tật, lang thang cơ nhỡ...
Ngoài các hoạt động trên, Hội còn đặc biệt quan tâm đến chị em vùng dân tộc, vùng sâu, vùng xa. Do đặc thù riêng của một tỉnh trung du miền núi, trình độ dân trí thấp, phương tiện đi lại rất khó khăn nhất là mùa mưa đồng bào dân tộc ít người tập trung tại các xã vùng sâu, vùng xa nên việc chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ - trẻ em, nhất là các bà mẹ đang mang thai rất khó khăn. Hội Phụ nữ tỉnh đã tranh thủ sự giúp đỡ của bệnh viện phụ sản Từ Dũ đào tạo 112 nữ hộ sinh người dân tộc ở Bù Đăng, Lộc Ninh, Phước Long. Các nữ hộ sinh đã phát huy tác dụng tốt giúp chị em mang thai ở vùng sâu, vùng xa yên tâm hơn khi sinh đẻ. Công tác quản lý mang thai, chăm sóc thai phụ của các nữ hộ sinh tốt hơn ở vùng đồng bào dân tộc được ngành y tế tỉnh đánh giá cao và góp phần cùng toàn ngành y tế hạ tỷ lệ tử vong cho mẹ và trẻ sơ sinh từ 114,58%o năm 1997, xuống còn 36,18%o năm 2000. Ngoài ra, hàng năm Hội Phụ nữ còn tham mưu để cấp bảo hiểm y tế miễn phí cho 3.142 lượt phụ nữ nghèo và cán bộ hội người dân tộc.
Ngoài các hoạt động trên, thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương hội, và thực hiện Nghị định 05,06 và Nghị quyết 20 của Chính phủ về tình hình các tệ nạn xã hội, các cấp hội đã phối hợp với các ngành Công an phát hiện và đề xuất với chính quyền để có biện pháp ngăn ngừa, đồng thời phối hợp với Trung tâm phòng chống các tệ nạn xã hội vận động chị em lầm lỡ trở về làm ăn lương thiện 30 chị, giúp đỡ 20 chị phụ nữ nghiện ma túy cai nghiện tại cộng đồng.
Bằng nhiều hình thức tuyên truyền và bằng nhiều phương tiện khác nhau, công tác bồi dưỡng giáo dục nâng cao kiến thức và năng lực cho chị em đã dẫn đến nhiều chuyển biến tốt trong nhận thức, tư tưởng và cả trong hành động. Đại bộ phận chị em đã đổi mới trong cách làm ăn kinh tế, biết cách tổ chức cuộc sống gia đình, nuôi dạy con cái theo khoa học, biết chăm sóc sức khỏe cho chính bản thân và gia đình, quan tâm đến lợi ích cộng đồng và xã hội. Tuy vậy, một số chị em còn chậm đổi mới về nhận thức, một số cơ sở hội do trình độ không đồng đều nên hoạt động còn hạn chế chưa chuyển đổi kịp so với yêu cầu hoạt động của hội, nhất là những cơ sở địa bàn rộng đi lại khó khăn, việc tập hợp quần chúng phụ nữ lại càng khó khăn hơn. Công tác xóa mù chữ đối với các cán bộ hội chủ chốt cơ sở thực hiện tốt không còn chị em mù chữ nhưng với các phụ nữ trẻ em gái vẫn còn. Về chăm sóc sức khỏe từ năm 1997 trẻ em suy dinh dưỡng là 40% đến nay trẻ em suy dinh dưỡng trong toàn tỉnh giảm còn 38%. Trong đó trẻ ở các xã có chương trình hỗ trợ của Ủy ban bảo vệ chăm sóc trẻ em giảm còn 32%, theo thống kê bước đầu cho thấy đã giảm 9% so với năm mới tách tỉnh. Về kế hoạch hóa gia đình tỷ suất sinh cũng giảm, cụ thể năm 1997 là 29,13%o đến nay còn 25,11%o, giảm 4,03%o.
Tuy nhiên một số chương trình phối hợp với các ngành chức năng đã được kí kết nhưng hiệu quả thực hiện đôi lúc chưa cao do sự phối hợp chưa đồng bộ, bên cạnh đó kinh phí của nhiều chương trình chưa được xác định rõ ràng nên phần nào cũng ảnh hưởng ít nhiều đến phong trào.
Để cải thiện nâng cao vị thế kinh tế cho phụ nữ là một trong những biện pháp thiết thực nâng cao địa vị người phụ nữ trong gia đình, ngoài xã hội là phát triển kinh tế gia đình. Ổn định kinh tế gia đình là điều kiện để chị em phụ nữ có thời gian học tập, nâng cao trình độ và tham gia hoạt động xã hội. Xói đói giảm nghèo là chủ trương lớn của Đảng và nhà nước, Hội phụ nữ các cấp trong nhiệm kỳ qua cũng đã nỗ lực thực hiện bằng nhiều hình thức hết sức phong phú, đa dạng.
Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình trong từng thôn ấp bằng tiền mặt, cho vay không lãi, cây giống, vật nuôi, bằng kinh nghiệm sản xuất, bằng vần đổi công đã trở thành nét đẹp phụ nữ trong tình nghĩa lá lành đùm lá rách, chị ngã em nâng. Đây là hình thức tuy âm thầm nhưng thiết thực, có hiệu quả cao. Các hình thức tổ nhóm TDTK từ nguồn “Tiết kiệm vì phụ nữ”, vốn 120 giải quyết việc làm, các nhóm xoay vòng vốn tự nguyện của các chi tiểu tổ hội, cho đến các tổ chức tín dụng cho các chị em phụ nữ nghèo, phụ nữ dân tộc bằng vốn các tổ chức phi chính phủ: Fao, Cidse, Oxfam, vốn xói đói giảm nghèo của tỉnh và các nguồn vốn tín chấp ngân hàng cũng được Hội Phụ nữ các cấp huy động cho chị em nghèo vay, tất cả đều phát huy được hiệu quả tốt trong nhiều năm qua. Bên cạnh các nguồn vốn vay, Hội phụ nữ các cấp tập huấn sử dụng quản lý vốn, phối hợp với các cơ quan chức năng tập huấn công tác khuyến nông, cung cấp kiến thức chăn nuôi trồng trọt theo khoa học kỹ thuật đã giúp chị em tránh được nhiều rũi ro, mất vốn trong sản xuất nông nghiệp. Ngoài các tổ vay vốn phát triển kinh tế gia đình, chị em phụ nữ còn có các nhóm xoay vòng vốn để mua sắm dụng cụ gia đình, sửa sang nhà cửa, xây dựng các công trình phụ của gia đình. Mô hình xóa nhà tranh làm nhà ngói (tôn) nền xi măng cũng được duy trì tốt.
Nhu cầu việc làm của phụ nữ cũng rất bức thiết, nhiều chị em cũng được Hội Phụ nữ giúp đỡ giới thiệu việc làm trong các công ty, xí nghiệp (xí nghiệp chế biến nông sản hạt điều, bột mì, xí nghiệp làm đũa) hoặc học may công nghiệp, đào tạo nghề may và giới thiệu việc làm tại các xí nghiệp may trong và ngoài tỉnh. Hỗ trợ vốn tạo việc làm cho phụ nữ là một trong những biện pháp nhằm xói đói giảm nghèo. Hội còn lồng ghép các công tác kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản, xóa mù chữ, nước sạch môi trường... đã có tác động lâu dài và bền vững cho việc xói đói giảm nghèo. Đây là nhận thức hết sức quan trọng mà trong công cuộc xói đói giảm nghèo chị em cán bộ hội các cấp đã biến thành các biện pháp tốt để thực hiện ở địa phương. Tổng số hội viên phụ nữ nghèo: 6.664, số hộ đói 2.262. Đến nay hội đã giúp cho 1.289 chị xóa được đói và 1.422 chị giảm nghèo. Số chị em vươn lên ổn định kinh tế 6.843 đạt tỷ lệ 76,66%.
Các cấp hội luôn đặc biệt quan tâm đến phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”. Nhân các ngày lễ, tết cổ truyền của dân tộc, hội tổ chức thăm hỏi các gia đình chính sách, các gia đình thương binh liệt sĩ, có công với đất nước, đỡ đầu 19 con liệt sĩ; nhận bảo dưỡng chăm sóc thường xuyên 20 mẹ liệt sĩ cô đơn, mẹ Việt Nam anh hùng. Quyên góp tặng 243 sổ tiết kiệm trị giá 90 triệu đồng và 133 triệu đồng xây dựng nhà tình nghĩa. Giúp 2.889 ngày công lao động gặt hái vụ mùa, sửa chữa nhà cửa cho phụ nữ đơn thân, gia đình khó khăn. Làm nhà tình thương, hủ gạo tình thương đã làm ấm lòng người nghèo cơ nhỡ. Các cấp Hội còn vận động ủng hộ đồng bào bị lũ lụt miền Trung, miền Tây, với tấm lòng nhường cơm xẻ áo, vì đồng bào ruột thịt trên 217 triệu đồng với nhiều hàng hóa khác. Ngoài ra, hội còn thể hiện tình quân dân như cá với nước, nhân dịp các ngày lễ như 22/12,3/3, tết Nguyên đán... tổ chức chị em đi thăm hỏi, tặng quà cho cán bộ đồn biên phòng và các đơn vị bộ đội đóng quân trên địa bàn tỉnh với số tiền trị giá là 333 triệu đồng. Song song với các chương trình trên, Hội phụ nữ tỉnh cùng các cấp hội trong lĩnh vực đối ngoại, Hội Phụ nữ tỉnh đã nhận được sự tài trợ của các tổ chức nước ngoài trong các lĩnh vực y tế, dân số, vay vốn để phát triển cộng đồng, bảo vệ rừng như tổ chức FAO, CIDSE, OXFAM, UNFPA, Thụy Điển, Đan Mạch, Canada... Bên cạnh đó, hội cũng tỏ rõ ý chí của các tầng lớp phụ nữ bằng việc lấy hàng ngàn chữ ký phụ nữ Bình Phước ủng hộ “Ngày đi bộ của phụ nữ thế giới đấu tranh chống đói nghèo và chống bạo lực đối với phụ nữ”. Ủng hộ phụ nữ Cuba 50 triệu đồng với tấm lòng chia sẽ và thông cảm. Các chị em vay vốn hội đã thực hiện tốt các mô hình lồng ghép như sức khỏe sinh sản, khuyến nông... đều đạt hiệu quả tốt.
Nghiên cứu tham gia xây dựng chế độ, chính sách, pháp luật, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế độ, chính sách, pháp luật có liên quan trực tiếp đến phụ nữ - trẻ em; thực hiện quyền đại diện tham gia quản lý nhà nước của tổ chức hội.
Đây là chương trình đòi hỏi Hội Phụ nữ phải nỗ lực học tập rèn luyện nâng cao trình độ về mọi mặt để tiếp cận với các vấn đề xã hội có liên quan đến phụ nữ và trẻ em, thực hiện quyền kiểm tra giám sát của hội để nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng. Các cấp hội đã tổ chức học tập Nghị quyết 04 của Bộ Chính trị về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới, Chỉ thị 37 của Bộ Chính trị về công tác cán bộ, Nghị quyết 07 - NQ/TU của Tỉnh ủy về phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, dân tộc, Nghị quyết 08 - NQ/TU của Tỉnh ủy về xói đói giảm nghèo,... Đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng; phê và tự phê bình theo Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII. Các cấp hội chỉ đạo cán bộ, hội viên quán triệt nghị quyết và tham gia góp ý với tinh thần xây dựng và dân chủ. Tổ chức tuyên truyền sâu rộng đến cán bộ, hội viên phụ nữ về kết quả, nội dung nghị quyết Đại hội Phụ nữ tỉnh lần thứ VI, Nghị quyết Đại hội toàn quốc phụ nữ lần thứ VIII. Vận động cán bộ tham gia học tập Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng bộ tỉnh do cấp ủy Đảng tổ chức. Nắm vững quan điểm của Đảng, mở ra thời kỳ mới trong sự nghiệp giải phóng phụ nữ nhằm phát huy mọi tiềm năng và vai trò to lớn của phụ nữ, từng bước đưa hoạt động ngày càng đáp ứng với nhu cầu phát triển của xã hội.
Hội Phụ nữ với chức năng, nhiệm vụ của mình đã tổ chức tham gia đóng góp ý kiến về các lĩnh vực kinh tế - xã hội, giáo dục có liên quan đến quyền lợi của phụ nữ - trẻ em, tham mưu cho Ủy ban nhân dân cùng các cấp tổng kết 12 năm thực hiện QĐ 163/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng “Về trách nhiệm của các cấp chính quyền trong việc bảo đảm cho các cấp Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam tham gia quản lý nhà nước”
Thành lập Ban vì sự tiến bộ phụ nữ Bình Phước, trên cơ sở thực hiện NQ 72/TTg của Thủ tướng Chính phủ và chủ trương của Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam. Ban hoạt động bước đầu đã xây dựng được chương trình hoạt động với những vấn đề bức xúc trong công cuộc giải phóng phụ nữ.
Hội Phụ nữ các cấp còn tổ chức học tập và đóng góp ý kiến vào các dự thảo luật hôn nhân gia đình, luật hình sự, luật lao động... và có văn bản đóng góp gởi về cơ quan chức năng và Trung ương hội, đồng thời khảo sát phụ nữ độc thân, tàn tật để có kế hoạch giúp đỡ. Cùng với Liên đoàn lao động tỉnh, hội tiến hành khảo sát đời sống, việc làm của lao động nữ. Ngoài ra, với chức năng đại diện cho quyền lợi và lợi ích chính đáng của phụ nữ, các cấp hội đã phối hợp với các ngành kiểm tra giám sát, đề xuất giải quyết các đơn thư khiếu nại, tố cáo, nhiều vụ việc có liên quan đến phụ nữ - trẻ em, vi phạm luật hôn nhân gia đình, trù dập, ức hiếp bạo hành đối với phụ nữ, chính sách đối với lao động nữ và đồng bào dân tộc, chương trình hành động “Vì sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2000”... Tỉnh hội thường xuyên cử cán bộ xuống cơ sở kiểm tra việc thực hiện 2 phong trào và 5 chương trình công tác trọng tâm của hội. Trong quá trình kiểm tra, hội đã kịp thời phát hiện những yếu kém. Tham mưu đề xuất với các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương điều chỉnh bổ sung khắc phục sai sót trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện ở từng địa phương.
Tuy vậy, trong quá trình thực hiện do một số cán bộ, hội viên còn tư tưởng bảo thủ, ngần ngại và chậm đổi mới. Trình độ năng lực cán bộ hội còn yếu nên việc tham gia kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chế độ, chính sách, luật pháp có liên quan đến quyền lợi của phụ nữ - trẻ em vẫn còn nhiều hạn chế, việc tham gia hòa giải, giải quyết đơn thư, khiếu nại của phụ nữ trẻ em nhiều nơi chưa giải quyết kịp thời. Công tác này mặc dù mở ra nhiều cơ hội để Hội Phụ nữ bảo vệ quyền lợi của giới mình nhưng nó cũng đòi hỏi Hội Phụ nữ phải thực sự lớn mạnh với đội ngũ cán bộ có năng lực thì mới có thể làm tốt công tác được giao.
Về chương trình xây dựng tổ chức hội vững mạnh, quan tâm xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ nữ. Các cấp hội xác định là công tác then chốt. Từ khi tái lập tỉnh, bộ máy tỉnh hội kịp thời củng cố và tiến hành Đại hội nhiệm kỳ VI, tổ chức Hội nghị chuyên đề về công tác xây dựng tổ chức hội. Hội đã chỉ đạo tổ chức cán bộ hội giỏi từ cơ sở lên nhằm phát hiện những tài năng bổ sung nguồn cán bộ hội cho cơ sở, kịp thời đào tạo, bồi dưỡng cả chính trị và nghiệp vụ chuyên môn đáp ứng theo yêu cầu tiêu chuẩn hóa cán bộ. Đồng thời tham mưu cho Đảng phát hiện, giới thiệu những nhân tố mới có phẩm chất, năng lực dự nguồn trong quy hoạch theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 của Đảng (khóa VIII).
Trong nhiệm kỳ qua toàn tỉnh có đầy đủ các Ban Chấp hành phụ nữ ở 80 xã, phường, thị trấn, 6 huyện, thị và 3 chi hội trực thuộc như chi hội công an, quân đội và Cục quân khí K882. Bộ máy chuyên trách từ tỉnh và các huyện, thị tương đối ổn định. Mặc dù có sự chia tách thị xã, tách địa bàn các xã, phường nhưng các địa phương đã nhanh chóng ổn định, tổ chức tốt và đi vào hoạt động bình thường.
Hàng năm Hội đã phối hợp với trường phụ vận Trung ương hội đào tạo cho nhiều lớp cán bộ hội cơ sở, đặc biệt có những lớp dành riêng cho cán bộ phụ nữ dân tộc ít người, hầu hết cán bộ hội cơ sở đều được bồi dưỡng về nghiệp vụ công tác hội, gởi đào tạo trên 900 chị cán bộ chuyên trách tỉnh, huyện qua các chuyên đề ngắn và dài hạn. Ở trong và ngoài tỉnh cử 17 chị chuyên trách tỉnh, huyện theo học các lớp cao cấp chính trị, đại học tại chức, vi tính, văn thư lưu trữ, tôn giáo... nhất là chú trọng cho lớp cán bộ trẻ đi học tạo nguồn để đảm đương công tác hội tốt hơn. Số cán bộ được chuẩn hóa, đại học chuyên ngành tăng 18,75%; cử nhân, cao cấp chính trị tăng 6,25%, trung cấp chính trị tăng 6,25% so với nhiệm kỳ trước. Số cán bộ huyện, thị cơ sở trình độ tăng đáng kể, trình độ văn hóa cấp 3 là 249 chị tăng 5,72% so với năm 1997, trình độ cấp 2 là 526 chị tăng 0,26% so với năm 1997.
Hội Phụ nữ các cấp tập hợp hội viên bằng nhiều hình thức sinh hoạt đa dạng chú trọng vận động chị em vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người, vùng giáo dân và tổ chức hội viên theo địa bàn dân cư. Kết quả hội đã tập hợp được 45.250 hội viên, chiếm tỷ lệ 49,71% số phụ nữ trong toàn tỉnh tham gia sinh hoạt hội tăng 5,43%.
Công tác gây quỹ hội luôn được chú trọng để tạo nguồn kinh phí hoạt động của các cơ sở, tuy mức độ khác nhau nhưng tất cả 6 huyện, thị và các xã, phường, thị trấn đã xây dựng được quỹ hội. Nhiều đơn vị có số lượng gây quỹ tương đối, cao nhất là 30.000.000 đồng, thấp nhất là 100.000 đồng, tổng số tiền quỹ hiện có 198.840.000 đồng đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của hội. Ngoài việc tạo kinh phí hội hoạt động tổ chức các hội thi, họp mặt, nhiều đơn vị đã trích một phần quỹ hội để trợ cấp cho cán bộ hội, hội viên khi gặp khó khăn, hoạn nạn, trích phụ cấp bồi dưỡng hàng tháng cho 350 cán bộ hội tại cơ sở. Qua hoạt động, các tổ chức hội cơ sở thường xuyên được củng cố tăng cường. Hàng năm tỷ lệ đơn vị khá tăng lên, đến nay không còn cơ sở hội yếu kém. Với những thành tích đạt được, trong 5 năm qua tỉnh hội được vinh dự đón nhận Huân chương lao động hạng 3 của Chủ tịch nước trao tặng và Bằng khen cờ thưởng của Trung ương hội; các huyện, thị hội đã được Chính phủ tặng một Huân chương hạng 3, 2 bằng khen của Thủ tướng Chính phủ và nhiều bằng khen của Trung ương Hội và Ủy ban nhân dân tỉnh. Đây là sự kiện đánh dấu một bước trưởng thành của phong trào phụ nữ và  chuẩn bị cho thời kỳ mới  bước vào thế kỉ XXI - thế kỉ của khoa học và công nghệ tiên tiến.
Bên cạnh những thành tích đạt được, hội vẫn còn nhiều mặt khó khăn so với yêu cầu đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, kinh phí đào tạo cho cán bộ cấp cơ sở quá ít hoặc không có nên số cán bộ được qua đào tạo còn thiếu chưa đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động của hội. Việc bố trí, sử dụng cán bộ theo đúng trình độ năng lực, tiêu chuẩn hóa còn nhiều vướng mắc, phần lớn cán bộ vừa học, vừa làm. Nguồn cán bộ hội vẫn còn hụt hẫng. Công tác quy hoạch cán bộ chưa có chuyển biến đáng kể, chất lượng cán bộ trong quy hoạch, điều kiện, khả năng luân chuyển, đề bạt cán bộ theo quy hoạch còn hạn chế. Tỷ lệ thu hút hội viên chưa cao, nhất là các đối tượng nữ thanh niên, phụ nữ tiểu thương, lao động nữ trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh vào tổ chức hội. Công tác vận động phụ nữ dân tộc, tôn giáo, nữ doanh nghiệp... trong giai đoạn hiện nay còn nhiều khó khăn, phức tạp, hội cần có sự đầu tư nhiều hơn về chỉ đạo và cần có kế hoạch định hướng chiến lược cho công tác này.
Nhìn chung, từ năm 1997 đến năm 2001, trong điều kiện của một tỉnh mới tái lập còn đầy khó khăn, song dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, sự hướng dẫn của Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, sự nhiệt tình của các cấp hội nên công tác hội và phong trào nữ trên địa bàn tỉnh đã đạt được những kết quả đáng trân trọng. Cùng với sự phát triển của xã hội, phong trào phụ nữ Bình Phước cũng đã trưởng thành về nhiều mặt. Hội đã phát huy truyền thống anh hùng bất khuất của phụ nữ trong kháng chiến, trong lao động sản xuất, góp phần rất lớn công sức của mình vào sự nghiệp đổi mới đất nước, đưa phong trào của hội phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu, đạt được những thành tựu rất cơ bản mà mục tiêu Nghị quyết Đại hội phụ nữ tỉnh lần thứ VI đã đề ra, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Đảng và Hội Phụ nữ Trung ương giao phó.
II. Phong trào phụ nữ Bình Phước tham gia thực hiện thắng lợi phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (2001 - 2005)
Sau 15 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII; 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ VIII; và 4 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VI, Hội phụ nữ Bình Phước nói riêng và nhân dân Bình Phước nói chung đã vượt lên mọi khó khăn, thách thức, giành được những thắng lợi bước đầu rất quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh... Đời sống của đa số nhân dân từng bước được cải thiện và nâng cao. Những kết quả đạt được, tuy còn có mặt chưa cao, nhưng nếu nhìn lại xuất phát điểm của kinh tế - xã hội từ khi mới tái lập tỉnh mới thấy càng trân trọng những kết quả mà Hội Phụ nữ tỉnh Bình Phước đã đạt được. Tuy Bình Phước là một tỉnh nghèo, điểm xuất phát thấp, nhân dân còn nghèo nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới cuộc sống còn nhiều bức xúc. Những khó khăn này sẽ là thách thức lớn đối với Đảng bộ tỉnh nói chung và phụ nữ Bình Phước nói riêng trong những năm đầu thế kỷ XXI.
Trong bối cảnh đó, thực hiện chủ trương của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bình Phước và chủ trương của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam về việc tiến hành Đại hội phụ nữ các cấp, từ ngày ... đến... tháng 10 năm 2001, Đại hội đại biểu phụ nữ tỉnh Bình Phước lần thứ VII, được tổ chức trọng thể tại thị xã Đồng Xoài. Đại hội xác định mục tiêu của phong trào phụ nữ nhiệm kỳ 2001 - 2006  là: Đoàn kết rộng rãi, động viên các tầng lớp phụ nữ nâng cao về mọi mặt, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ, xây dựng người phụ nữ yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có sức khỏe, có trí tuệ, năng động sáng tạo, có bản lĩnh, có lòng nhân hậu, có lối sống lành mạnh, quan tâm đến lợi ích của xã hội và của cộng đồng. Đại hội đã bầu... đồng chí ủy viên Ban Chấp hành Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh. Đồng chí Nguyễn Thị Đào, Tỉnh ủy viên tiếp tục được tín nhiệm cao bầu lại Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh, đồng chí... làm Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh.
Đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội phụ nữ Bình Phước lần thứ VI, Đại hội nhấn mạnh: Trong 5 năm qua Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Bình Phước cùng với các tầng lớp phụ nữ trong tỉnh đã có nhiều nỗ lực phấn đấu vươn lên trên mọi lĩnh vực góp phần xây dựng và phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội tỉnh nhà. Thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam và Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ, Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Bình Phước cũng đã khẳng định được là một tổ chức đoàn thể năng động, đổi mới, luôn lắng nghe và đáp ứng nguyện vọng, tâm tư tình cảm của chị em phụ nữ. Trong chỉ đạo phong trào, Hội Phụ nữ các cấp đã tập trung củng cố tổ chức hội từ cơ sở đến huyện, tỉnh được vững mạnh, đảm bảo đủ sức để đảm đương công tác hội ngày một tốt hơn. Hội cũng tổ chức chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho phụ nữ và trẻ em. Luôn gắn công tác chăm lo quyền lợi đời sống phụ nữ với công tác tuyên truyền giáo dục nâng cao trình độ, kiến thức cho phụ nữ. Hội luôn tranh thủ ý kiến, chủ động tham mưu đề xuất với Đảng về các chủ trương phục vụ cho công tác hội và luôn được các cấp ủy ghi nhận, tạo điều kiện cho Hội Phụ nữ hoạt động. Các chương trình hoạt động của hội luôn thiết thực phục vụ cho đời sống của phụ nữ và trẻ em, có liên quan đến nhiều ngành, công tác phối hợp với các ngành cũng được Hội Phụ nữ thực hiện tốt và nhận được sự hỗ trợ phối hợp có hiệu quả. Trong hoạt động, Hội tập trung hướng về cơ sở lấy những vấn đề thiết thân của phụ nữ làm nội dung hoạt động của hội nên đã thu hút nhiều hội viên ở mọi tầng lớp phụ nữ. Đội ngũ cán bộ hội hết sức năng nổ, nhiệt tình, xây dựng mạng lưới hội viên phụ nữ nòng cốt ở chi, tiểu tổ hội nên đã đưa được các mặt công tác xuống tận quần chúng hội viên. Qua 5 chương trình trọng tâm và 2 phong trào của hội đã tác động đến các tầng lớp phụ nữ và hội viên có những chuyển biến nhận thức mới về vai trò của phụ nữ trong giai đoạn đổi mới của đất nước. Sự hiểu biết về giới cũng đã làm thay đổi cách nghĩ và chuyển biến tích cực về hành vi nhằm góp phần vào sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Kết quả lớn nhất trong phong trào hội là sự nhìn nhận vai trò phụ nữ trong xã hội, thực tế cho thấy tất cả các hoạt động của các cấp ủy chính quyền địa phương trong công tác vận động quần chúng đều có Hội Liên hiệp phụ nữ tham gia, một lực lượng tin cậy trong hệ thống chính trị của Đảng, Hội Phụ nữ luôn phấn đấu không mệt mõi vì sự bình đẳng và phát triển của phụ nữ.
Đại hội đã chỉ ra những mặt hạn chế của nhiệm kỳ qua như: Bên cạnh những mặt làm được, những mặt hạn chế trong phong trào phụ nữ cũng không ít, trước tình hình đổi mới của đất nước, lực lượng nữ chưa đáp ứng được những yêu cầu về trình độ, năng lực, chuyên môn nghiệp vụ. Ảnh hưởng phong kiến “trọng nam khinh nữ” vẫn còn tồn tại tuy có mức độ khác nhau nhưng vẫn là cản trở trong nếp nghĩ và hành vi của phụ nữ để vươn lên bình đẳng. Một bộ phận không ít phụ nữ nông thôn, phụ nữ vùng đồng bào dân tộc còn tự ty, an phận, quanh quẩn tháo gỡ cái nghèo, không có điều kiện tham gia sinh hoạt học tập. Đội ngũ cán bộ nữ trong tỉnh phát triển chậm, nhất là nữ tham gia cấp ủy giảm so với nhiệm kỳ trước. Trong xã hội, một bộ phận nữ thoái hóa, biến chất, chạy theo lối sống thực dụng, nhận thức xã hội kém, tiếp tay cho các loại tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật gây mất trật tự xã hội. Việc vận động phụ nữ đến với hoạt động của hội ở vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn. Điều kiện giao thông cách trở, dân cư rãi rác, cán bộ hội cơ sở trình độ năng lực có hạn, nhất là đối với công tác tuyên truyền chính sách pháp luật hoặc kiểm tra việc thực hiện chính sách pháp luật đối với phụ nữ và trẻ em. Trong việc phát triển hội viên chủ yếu là phụ nữ nông thôn, phụ nữ tiểu thương. Đối với nữ trí thức, nữ doanh nghiệp, nữ thanh niên, mặc dù có chỉ đạo đổi mới nội dung, phương thức hoạt động để thu hút hội viên nhưng chưa cao, có nơi chưa quan tâm. Trong các chương trình, thực hiện chương trình nghiên cứu giám sát còn nhiều hạn chế từ cấp tỉnh đến cơ sở. Do trình độ năng lực cán bộ cũng như phương pháp, cán bộ hội chưa được học tập bồi dưỡng, chủ yếu vẫn chỉ là nắm số liệu hỗ trợ cho công trình nghiên cứu cho Trung ương.
Từ những kết quả đạt được, Đại hội đề ra phương hướng, nhiệm vụ thời kỳ 2001 - 2006, trong đó nhấn mạnh:
1. Đoàn kết mọi tầng lớp phụ nữ, phát huy truyền thống tốt đẹp, rèn luyện phẩm chất đạo đức của người phụ nữ Việt Nam hoàn thành tốt nhiệm vụ trên mọi lĩnh vực, góp phần ổn định kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội - an ninh quốc phòng ở địa phương.
2. Tạo điều kiện để phụ nữ tích cực học tập, nâng cao trình độ về mọi mặt, hướng dẫn giúp đỡ phụ nữ nâng cao chất lượng cuộc sống, có kiến thức chăm sóc sức khỏe, nuôi dạy con theo khoa học, xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc.
3. Xây dựng và phát triển tổ chức hội vững mạnh, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ hội đáp ứng với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước.
4. Tham gia xây dựng và kiểm tra giám sát việc thực hiện pháp luật, chính sách bình đẳng giới, các chính sách có liên quan đến quyền lợi của phụ nữ - trẻ em, phát triển đội ngũ cán bộ nữ trên các lĩnh vực, giới thiệu phụ nữ tham gia vào các cơ quan lãnh đạo của Đảng và nhà nước.
Từ thực tiễn lãnh đạo Hội phụ nữ tỉnh, 5 năm 1997 - 2001, Đại hội rút ra một số bài học kinh nghiệm:
- Hoạt động hội phải luôn gắn liền với thực hiện nhiệm vụ chính trị địa phương, đáp ứng nguyện vọng của mọi tầng lớp phụ nữ. Hội Phụ nữ chủ động tham mưu tích cực cho các cấp ủy, Ủy ban nhân dân về các vấn đề liên quan đến quyền lợi phụ nữ, trẻ em và lợi ích cộng đồng. Tạo sự tin cậy của Đảng và nhà nước đối với Hội Phụ nữ các cấp.
- Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đội ngũ cán bộ hội cơ sở, vấn đề bộ máy hoạt động và nâng cao trình độ cho cán bộ hội là hết sức quan trọng, quyết định việc thực hiện các chương trình trọng tâm của hội.
- Quan tâm đào tạo nguồn trong cán bộ phụ nữ dân tộc, tôn giáo nhằm phát huy hết năng lực của các tầng lớp phụ nữ vùng sâu, vùng xa.
- Sự đoàn kết nhất trí của toàn thể cán bộ hội viên, các tầng lớp phụ nữ thực hiện phong trào của hội. Các yếu tố trí tuệ, năng động, sáng tạo đổi mới các nội dung, phương thức hoạt động là điều kiện tốt để phát triển hội ngày một vững chắc.
- Việc xây dựng các nguồn quỹ hội là một biện pháp tốt để hỗ trợ kinh phí hoạt động của Hội Phụ nữ các cấp một cách hữu hiệu. Thực tế cho thấy một số lớn các cơ sở hội làm tốt công tác gây quỹ đã có phong trào phụ nữ hoạt động tốt hơn.
Để lãnh đạo hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ, Đại hội đã đề ra các mục tiêu cụ thể và các giải pháp mũi nhọn: Nâng cao nhận thức và trình độ năng lực mọi mặt của phụ nữ. Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế hộ gia đình, vươn lên làm giàu chính đáng. Xây dựng gia đình no ấm - bình đẳng - tiến bộ - hạnh phúc. Xây dựng và phát triển tổ chức hội vững mạnh. Tham gia xây dựng và kiểm tra giám sát việc thực hiện pháp luật, chính sách về bình đẳng nam nữ và hoạt động đối ngoại.
Cùng với việc tập trung kiểm điểm tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội Phụ nữ tỉnh lần thứ VI và đề ra phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 1991 - 1996, Đại hội VII Phụ nữ tỉnh Bình Phước cần kiểm điểm sự lãnh đạo của Ban Chấp hành phụ nữ tỉnh lần thứ VI trên tất cả các mặt. Các đại biểu tham dự đại hội cũng đóng góp nhiều ý kiến vào văn bản dự thảo văn kiện Đại hội Liên hiệp phụ nữ toàn quốc lần thứ IX và bầu các đồng chí đi dự Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ IX. Đây là những đồng chí đại diện cho toàn bộ phụ nữ Bình Phước, có trách nhiệm đem hết trí tuệ và phản ánh nguyện vọng của phụ nữ Bình Phước, góp phần vào sự thành công của Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ IX của phụ nữ Việt Nam.
Đại hội đại biểu phụ nữ tỉnh Bình Phước được tiến hành vào thời điểm có nhiều ý nghĩa quan trọng, thời điểm kết thúc thế kỷ XX, bước sang thế kỷ XXI. Năm toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang tích cực triển khai đưa Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp vào cuộc sống; triển khai thực hiện tốt phong trào thi đua yêu nước và 6 chương trình công tác trọng tâm do Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ IX đề ra, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kinh tế, xã hội của địa phương, nâng cao đời sống nhân dân, ổn định chính trị, thực hiện sự bình đẳng, tiến bộ của phụ nữ.
Về công tác triển khai nghị quyết, Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh và các cấp hội đã tiến hành chỉ đạo kịp thời, phù hợp với tình hình thực tiễn, được địa phương và quần chúng đồng tình ủng hộ. Đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên được lựa chọn chu đáo nên đã phát huy được tác dụng khi triển khai nghị quyết cho hội viên phụ nữ ở cơ sở. Đến cuối năm 2002, Hội phụ nữ  từ tỉnh đến cơ sở đã triển khai đồng loạt các nghị quyết của hội xuống hội viên và phụ nữ. Trong đó, 100% là cán bộ Ban Chấp hành cấp huyện, thị, các ngành liên quan, cán bộ Ban Chấp hành hội cơ sở, cán bộ chi, tổ phụ nữ tham gia học nghị quyết đạt kế hoạch đề ra.
Ngày 19/5/2002, cùng với cả nước, phụ nữ cả tỉnh đi bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XI, bầu bổ sung Hội đồng nhân dân các cấp và ngày 25/4/2004 bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2004 - 2009, đảm bảo dân chủ, đúng luật, an toàn và tiết kiệm với tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu đạt trên 99%. Kết quả cử tri bầu 6 người trúng cử vào đại biểu Quốc hội khóa XI, trong đó đại biểu nữ có đồng chí Trịnh Thị Nga, Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh chiếm tỷ lệ 20%, Hội đồng nhân dân tỉnh có 11 chị chiếm 21,15%, Hội đồng nhân dân huyện, thị có 43 chị chiếm 22,87%, Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn có 227 chị chiếm 12,14%.
Nhờ triển khai tốt Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, Nghị quyết Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ IX và Nghị quyết Đại hội phụ nữ tỉnh lần thứ VII trong cán bộ, hội viên, phong trào phụ nữ và công tác hội từ tỉnh đến cơ sở đã có chuyển biến mạnh mẽ trên các mặt, vai trò của phụ nữ trong tỉnh tham gia tích cực, có hiệu quả, đóng góp quan trọng vào các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng của tỉnh.
Trên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, với đặc thù là một tỉnh nông nghiệp miền núi cây trồng chính là cây công nghiệp, dân tộc biên giới, có 41 dân tộc anh em cùng sinh sống, tỷ lệ đồng bào dân tộc chiếm trên 20%, có 240 km đường biên giới giáp với Vương quốc Campuchia; lao động nữ trong nông nghiệp chiếm hơn 80%, đại bộ phận phụ nữ làm nghề nông với tính cần cù, chịu khó, chị em đã vượt qua khó khăn, tích cực lao động, tích luỹ kinh nghiệm sản xuất đồng thời không ngừng học tập, nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật với các cây, con giống có giá trị kinh tế cao, đầu tư thâm canh sản xuất, chuyển đổi cơ cấu mùa vụ nhằm phát triển nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Tham gia đóng góp quan trọng vào hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm, chế biến nông sản thực phẩm... Một bộ phận phụ nữ đã mạnh dạn phát triển mô hình kinh tế trang trại, đa dạng ngành nghề, tạo ra sản phẩm có giá trị kinh tế cao, góp phần tích cực trong việc bảo đảm an ninh lương thực thực phẩm, phục vụ tốt nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu. Nhiều chị em là những nông dân sản xuất giỏi, chủ trang trại như chị Nguyễn Thị Ly (Đồng Nơ - Bình Long), chị Lê Thị Hồng Châu (Lộc Quang - Lộc Ninh)... Từ đó khẳng định được vị thế của phụ nữ trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp.
Trên lĩnh vực sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng trưởng với tốc độ khá cao, chủ yếu là chế biến mủ cao su và hạt điều. Với thế mạnh là đất đai màu mỡ, diện tích trồng cao su nhiều nhất nước, có 5 công ty cao su hoạt động trong địa bàn tỉnh đã thu hút được lực lượng công nhân rất lớn, tỷ lệ nữ công nhân chiếm 75% đã vượt lên những khó khăn, thách thức của quá trình chuyển đổi nền kinh tế, hưởng ứng mạnh mẽ phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”, ngày càng có những đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế. Từ đội ngũ nữ công nhân lao động trực tiếp đến nữ quản lý trong các xí nghiệp, nhà máy đã tích cực lao động, sản xuất kinh doanh, quản lý xí nghiệp, đồng thời tham gia học tập, nâng cao trình độ, tay nghề dưới nhiều hình thức để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Qua đó, nhiều chị đạt danh hiệu kiện tướng trong các hội thi thợ giỏi như chị Phạm Thị Thủy - Nông trường Tân Lợi - Công ty cao su Đồng Phú và đạt danh hiệu “Bàn tay vàng” do các công ty cao su tổ chức như chị Phạm Thị Cúc - Nông trường Minh Thành; chị Nguyễn Thị Nghệ - Nông trường Nha Bích thuộc Công ty cao su Sông Bé. Trong sản xuất kinh doanh, các chị đã mạnh dạn thay đổi mẫu mã, áp dụng kỹ thuật công nghệ mới, phát triển thêm mặt hàng đáp ứng yêu cầu khách hàng, nắm bắt được cơ hội kinh doanh, góp phần đáng kể vào việc giải quyết việc làm cho người lao động, tạo ra những sản phẩm chất lượng phục vụ cho xã hội, đáp ứng yêu cầu cơ bản thiết yếu của nền kinh tế và vươn lên làm giàu chính đáng như chị Phạm Thị Mỹ Lệ - Giám đốc Công ty Mỹ Lệ TNHH.
Trong hoạt động dịch vụ, thương mại, bưu chính viễn thông, tài chính ngân hàng: lực lượng lao động nữ đã từng bước bám sát thị trường, có nhiều đóng góp trong lĩnh vực lưu thông, phân phối sản phẩm, hàng hóa đến tay người tiêu dùng từ vùng sâu, vùng nông thôn đến thị trấn, thị tứ, tạo thêm việc làm cho người lao động. Sự phát triển của hoạt động thương mại, dịch vụ trong tỉnh vừa góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế vừa giúp lao động nữ trong ngành không ngừng học tập, rèn luyện, lao động sáng tạo để bắt kịp với yêu cầu phát triển nền kinh tế tri thức và xu thế hội nhập, phấn đấu cải tiến cung cấp dịch vụ với chất lượng ngày càng cao. Trong hoạt động bưu chính viễn thông, tài chính ngân hàng, lao động nữ đã góp phần nâng cao hiệu quả các hoạt động dịch vụ, thúc đẩy việc huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn phục vụ cho công cuộc xây dựng tỉnh nhà và phục vụ đời sống nhân dân, tạo nguồn thu đáng kể vào ngân sách của tỉnh.
Trong lĩnh vực văn hóa - xã hội: phụ nữ trong tỉnh đã có nhiều đóng góp tích cực, xuất phát từ tình hình thực tế là tỉnh có trình độ dân trí còn thấp so với các tỉnh trong khu vực, nhất là trong phụ nữ nông thôn, phụ nữ lao động nghèo. Vì vậy, việc bồi dưỡng nâng cao trình độ về mọi mặt của phụ nữ là rất cần thiết và luôn được các cấp, các ngành quan tâm. Lao động nữ trong ngành giáo dục đào tạo đã có những đóng góp quan trọng trong chủ trương đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, nâng cao hiệu quả giáo dục đào tạo ở các cấp học, góp phần hoàn thành mục tiêu xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, vận động trẻ em đến trường, từng bước nâng cao mặt bằng dân trí của tỉnh. Nhiều chị có nhiều thành tích cao trong giảng dạy đã được công nhận là chiến sĩ thi đua toàn ngành, giáo viên dạy giỏi cấp quốc gia...
Lao động nữ trong ngành y tế có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển, tiến bộ của ngành. Đội ngũ nữ bác sĩ, y tá, hộ lý đã tận tụy trong công việc, ứng dụng khoa học vào lĩnh vực nghiên cứu và nâng cao chất lượng công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho nhân dân. Các tuyên truyền viên làm tốt công tác tuyên truyền ở cơ sở về những nội dung chăm sóc sức khỏe phụ nữ và trẻ em đồng thời xây dựng các mô hình câu lạc bộ như: câu lạc bộ sức khỏe sinh sản, gia đình hạnh phúc, không sinh con thứ ba, phòng chống trẻ em suy dinh dưỡng cũng như vận động phụ nữ đi khám thai, tiêm phòng uốn ván, ... thực hiện kế hoạch hóa gia đình giúp phụ nữ trong tỉnh thay đổi hành vi trong chăm sóc sức khỏe sinh sản, góp phần hạ tỷ suất sinh của tỉnh từ 23,52%o năm 2003 xuống còn 22,03%o năm 2005.
Hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao có chuyển biến tích cực, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương. Các hội thi thể thao, bóng chuyền, cầu lông, dưỡng sinh, văn nghệ lưu động... đã thu hút lực lượng nữ tham gia, góp phần nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của các tầng lớp phụ nữ trong tỉnh, nhất là lực lượng nữ thanh niên, hội viên cao tuổi.
Trong xóa đói giảm nghèo: Bằng nhiều hình thức như cho vay không lãi, lãi suất thấp, hỗ trợ cây giống, vật nuôi, kinh nghiệm sản xuất kinh doanh, ngày công lao động đã khơi dậy được truyền thống tốt đẹp của dân tộc “lá lành đùm lá rách” tạo nên một phong trào rộng lớn trong các tầng lớp phụ nữ. Với phương châm phát huy nội lực và đảm bảo tính bền vững, hình thức giúp nhau thoát khỏi đói nghèo của phụ nữ rất đa dạng, hiệu quả và mang nét riêng của phụ nữ như: vốn giúp nhau, tổ, nhóm TDTK, tổ xoay vòng vốn. Việc sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn: vốn 120 giải quyết việc làm, vốn tín chấp, vốn ngân hàng nhà nước, vốn xóa đói giảm nghèo của tỉnh, vốn của các tổ chức phi chính phủ đã giúp nhiều chị em thoát nghèo, vươn lên làm giàu với nhiều điển hình như chị Điểu Thị Mai ở xã Tân Thành - thị xã Đồng Xoài, chị Võ Thị Thuận ở xã Minh Thắng - huyện Chơn Thành... Điều đáng ghi nhận là việc hỗ trợ vốn của phụ nữ không chỉ cải thiện được mức sống mà còn nâng cao ý thức công dân, nâng cao tình làng nghĩa xóm ở khu dân cư.
Trong xây dựng gia đình “no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc” phụ nữ đã phát huy vai trò người thầy đầu tiên cùng các thành viên trong gia đình nuôi dạy con có sức khỏe, phát triển trí tuệ, xây dựng gia đình theo 4 chuẩn mực “ No ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc” gắn với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” và xây dựng gia đình văn hóa. Qua đó góp phần tích cực đẩy mạnh phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, nhân đạo từ thiện bằng những việc làm thiết thực, cụ thể như thăm hỏi các gia đình chính sách, chăm sóc mẹ Việt Nam anh hùng, mẹ liệt sĩ cô đơn, quyên góp tặng sổ tiết kiệm, ủng hộ xây dựng nhà tình nghĩa, hỗ trợ gia đình chính sách phát triển kinh tế gia đình, giúp phụ nữ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, ủng hộ đồng bào bị thiên tai lũ lụt, duy trì hủ gạo tình thương, đặc biệt là phong trào làm nhà tình thương, tặng sổ tiết kiệm, xóa nhà tranh tre cho phụ nữ nghèo.
Trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng: phụ nữ trong lực lượng vũ trang tuy chiếm tỷ lệ không lớn nhưng đã tích cực hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước của phụ nữ trong tỉnh, có những đóng góp tích cực thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ chính quyền, bảo vệ cuộc sống nhân dân, góp phần ổn định chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, chủ quyền an ninh quốc gia, an ninh biên giới. Các tầng lớp phụ nữ còn tham gia tích cực trong xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, chuẩn bị tốt các đợt diễn tập phòng thủ, ứng phó với các tình huống, làm tốt công tác hậu phương quân đội, vận động phụ nữ vùng biên giới, đấu tranh ngăn chặn bọn buôn lậu, phá rừng, bảo vệ an ninh biên giới, đấu tranh chống âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch đồng thời tăng cường mối quan hệ giữa phụ nữ Bình Phước và phụ nữ các tỉnh lân cận thuộc Vương quốc Campuchia.
Cùng với các lĩnh vực trên, vị trí, vai trò của cán bộ nữ trong các cơ quan Đảng, chính quyền, các cơ quan dân cử ngày càng được phát huy. Đội ngũ cán bộ nữ chủ chốt đã từng bước khẳng định được bản lĩnh nhạy bén, năng động trong lĩnh vực được phân công. Thông qua tổ chức chính trị, các tầng lớp phụ nữ trong tỉnh đã tham gia đóng góp ý kiến vào văn kiện Đại hội Đảng các cấp, các văn bản pháp luật, tích cực tham gia bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2004 - 2009, thực hiện Quy chế dân chủ ở địa phương, đơn vị. Tham mưu cho các cấp ủy Đảng tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 37 của Ban Bí thư nhằm đánh giá kết quả và định hướng cho các cấp ủy, chính quyền các cấp trong quá trình phát huy vai trò quan trọng của cán bộ nữ trong công cuộc xây dựng và phát triển tỉnh nhà, so với nhiệm kỳ trước cán bộ nữ lãnh đạo cấp tỉnh tăng 6 chị (đạt tỷ lệ 33,3%) hiện tại có 26 chị, cấp huyện tăng 20 chị (đạt tỷ lệ 5,5%), hiện tại có 152 chị, cấp xã tăng 30 chị (đạt tỷ lệ 10%), hiện tại có 330 chị; nữ tham gia cấp ủy cấp tỉnh tăng 5,64%, cấp huyện, thị tăng 2,27%, cấp cơ sở tăng 2,66%, nữ Hội đồng nhân dân tỉnh tăng 5,96%, huyện, thị tăng 0,7%, cơ sở tăng 5,56%.
Các tầng lớp phụ nữ Bình Phước cũng đã tích cực tham gia đấu tranh, góp tiếng nói chung với phụ nữ cả nước, phụ nữ yêu chuộng hòa bình trên thế giới, chống cuộc chiến tranh xâm lược Irắc, góp chữ ký gởi toà án quốc tế đấu tranh ủng hộ nạn nhân bị nhiễm chất độc da cam đioxin. Phụ nữ tham gia giao lưu thương mại và quan hệ tốt với tỉnh Krachê, Mundunkiri (Cmphuchia)... Đồng thời cũng là lực lượng có những đóng góp không nhỏ vào hoạt động kinh tế đối ngoại như lĩnh vực xuất nhập khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, du lịch...
Những kết quả nêu trên thể hiện sự nỗ lực của bản thân phụ nữ và sự quan tâm trong việc hoạch định chính sách nâng cao nhận thức giới trong các cấp, các ngành và toàn xã hội, củng cố niềm tin của hội viên phụ nữ vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Cùng với các phong trào thi đua yêu nước, hoạt động của Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh thời kỳ 2001 - 2005 có nhiều khởi sắc. Từ sau Đại hội phụ nữ tỉnh lần thứ VII và Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ IX, các cấp hội trong tỉnh đã triển khai thực hiện và cụ thể hóa nghị quyết đại hội, tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, thực hiện tốt phong trào thi đua yêu nước “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc” và 6 chương trình công tác trọng tâm của hội đạt nhiều kết quả thiết thực, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh và mục tiêu bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ Bình Phước.
Hội tổ chức các hoạt động hỗ trợ phụ nữ phát huy tiềm năng, phấn đấu vì mục tiêu bình đẳng và phát triển phụ nữ. Công tác tuyên truyền giáo dục tư tưởng, giáo dục truyền thống được chú trọng chỉ đạo thực hiện có hiệu quả, các cấp hội đã bám sát đường lối, chủ trương của Đảng, các mục tiêu kinh tế - xã hội của tỉnh và chức năng nhiệm vụ của hội để xây dựng chương trình hoạt động, đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền phù hợp với tâm tư nguyện vọng của từng đối tượng. Nhân các sự kiện lớn của đất nước, Hội đã tổ chức nhiều hoạt động có ý nghĩa chính trị xã hội, nhân văn sâu sắc, góp phần củng cố phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc, giáo dục truyền thống cho phụ nữ, tham gia giao lưu phụ nữ cả nước với Tây Nguyên, với Điện Biên, về nguồn, tổ chức mừng thọ mẹ Việt Nam anh hùng, tổ chức Hội nghị phụ nữ khu vực miền Đông Nam Bộ, tham gia Hội thi cán bộ Hội dân tộc. Điểm mới trong công tác tuyên truyền giáo dục của hội trong nhiệm kỳ qua là hướng các hoạt động về cơ sở, thu hút được nhiều đối tượng tham gia, nhiều mô hình mới như sinh hoạt chi hội nữ kháng chiến, tổ chức kết nghĩa giữa xã khá với xã khó, giữa chi hội phụ nữ người kinh và phụ nữ dân tộc, xây dựng nhiều mô hình câu lạc bộ, tổ chức các hội thi có sự tham gia của nam giới, phù hợp với các ngành chức năng tuyên truyền học tập luật pháp cho hội viên, tác động nhiều đến tư tưởng của hội viên phụ nữ. Hội đã thực sự là cầu nối giữa Đảng với nhân dân từ đó mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân được củng cố và tăng cường gắn bó, tạo sự thống nhất cao và trở thành động lực mạnh mẽ trong quá trình thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng.
Hội còn cung cấp tài liệu các loại có nội dung thiết thực đáp ứng được nhu cầu cung cấp thông tin cho nhiều đối tượng phụ nữ về các vấn đề phụ nữ quan tâm như giáo dục truyền thống, đạo đức phẩm chất, chuẩn mực người phụ nữ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giáo dục gia đình, chăm sóc sức khỏe, phòng chống tệ nạn xã hội...; vận động phụ nữ viết bài dự thi tìm hiểu về lịch sử Đảng, về thân thế và sự nghiệp Bác Hồ, chính sách vay vốn của ngân hàng, phòng chống AIDS, pháp lệnh mại dâm, DS/SKSS. Đặc biệt, từ đầu năm 2003, hàng tháng hội đã cung cấp 110 tờ tin nội bộ cho cơ sở làm tài liệu sinh hoạt, xây dựng mạng lưới báo cáo viên, tuyên truyền viên cơ sở, nhờ đó nhận thức của chị em từng bước được nâng lên.
Chương trình hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, xói đói giảm nghèo trong nhiệm kỳ qua đã tạo ra bước phát triển cả về quy mô và hiệu quả hoạt động. Các cấp hội đã khai thác thêm nhiều nguồn vốn để hỗ trợ phụ nữ nghèo với mục đích đa dạng, không ngừng năng động, sáng tạo, tìm nhiều loại hình thích hợp với hoàn cảnh phụ nữ và khả năng của hội để thực hiện, nhiều mô hình mới được xây dựng như 5 đến 10 chị dân tộc giúp cho 1 chị đến khi thoát nghèo ở Bù Đăng, giúp nhau xây dựng công trình “3 sạch” ở Bù Đốp, giúp nhau nuôi bò xoay vòng ở Phước Long, Đồng Phú, Chơn Thành. Hầu hết, các nguồn vốn đã tập trung giúp phụ nữ nghèo. Không chỉ cán bộ, hội viên phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo mà khối nữ công nhân viên chức cũng huy động nguồn vốn xoay vòng giải quyết cho nữ công nhân viên chức vay để giải quyết khó khăn trong cuộc sống. Cùng với hỗ trợ nguồn vốn, các cấp hội đã đẩy mạnh công tác chuyển giao khoa học kỹ thuật nhờ đó đã giúp chị em phát triển kinh tế từ nghèo đến ổn định, từ ổn định lên khá, giàu.
Hội còn mở lớp tập huấn kỹ năng quản lý và điều hành doanh nghiệp, giúp chị em khởi sự phát triển doanh nghiệp nhỏ và cực nhỏ, thành lập và phát triển các tổ đan mây tre, tổ gia công hạt điều để có thêm thu nhập. Riêng trung tâm dịch vụ việc làm của Hội đã phối hợp với các ngành liên quan mở các lớp: Trung cấp kế toán, sơ cấp chăn nuôi - thú y - bảo vệ thực vật, vi tính với 238 học viên, mở các lớp đào tạo nghề cho lao động nông thôn như cắt uốn tóc, nữ công gia chánh, điện dân dụng cho 460 học viên, phối hợp tổ chức thi giấy phép lái xe hạng A1 cho 1.424 người dân có nhu cầu, giáo dục định hướng xuất khẩu lao động cho 94 học viên và tư vấn giới thiệu việc làm trong và ngoài tỉnh. Trong 5 năm qua, các cấp hội đã hỗ trợ số vốn hơn 100 tỷ đồng cho gần 70.000 lượt phụ nữ nghèo vay để phát triển kinh tế gia đình. Những hoạt động trên đã góp phần làm giảm tỷ lệ hộ nghèo trong tỉnh từ 10,15% đầu năm 2001 xuống còn 4,98% năm 2005 (xét theo tiêu chí mới là 11,2%).
Quán triệt tinh thần chỉ đạo và định hướng của Nghị quyết Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ IX về xây dựng gia đình Việt Nam, trong nhiệm kỳ qua, các cấp Hội phụ nữ trong tỉnh đã gắn việc chỉ đạo xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc với thực hiện phong trào thi đua yêu nước và cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”. Tổ chức cho cán bộ, Hội viên tuyên truyền, học tập, đăng ký và bình xét hàng năm. Thành công đáng kể trong nhiệm kỳ qua là các cấp Hội phụ nữ đã xây dựng được nhiều mô hình thiết thực, hiệu quả như câu lạc bộ “Gia đình hạnh phúc”, câu lạc bộ “Sức khỏe sinh sản”, câu lạc bộ “Không sinh con thứ ba”, câu lạc bộ “Không có trẻ em suy dinh dưỡng”, câu lạc bộ “Gia đình không có người thân phạm tội và tệ nạn xã hội”, phối hợp với các ban ngành liên quan để tổ chức các Hội thi, Hội thảo, tuyên dương các gia đình hạnh phúc..., nhằm tuyên truyền giúp chị em nâng cao nhận thức về vai trò và trách nhiệm của người phụ nữ từ đó làm tốt vai trò người vợ, người mẹ trong gia đình góp phần cùng với xã hội phòng chống ngăn chặn tệ nạn xã hội từ trong gia đình, chăm sóc sức khỏe phụ nữ trẻ em.
Cùng với các hoạt động tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho phụ nữ, giữ gìn và phát huy những bản sắc văn hóa tốt đẹp của gia đình Việt Nam, các cấp Hội còn tăng cường các hoạt động chăm lo hỗ trợ vật chất, tinh thần, đẩy mạnh các hoạt động nhân đạo từ thiện bằng nhiều chương trình có ý nghĩa thiết thực, góp phần mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho gia đình nghèo. Trong nhiệm kỳ qua, các cấp Hội đã vận động xây dựng 07 căn nhà tình nghĩa, 95 căn nhà tình thương với tổng trị giá 740.466.000 đồng, vận động được 198 sổ tiết kiệm hỗ trợ gia đình chính sách và hội viên nghèo với số tiền 110.200.000 đồng, xóa 339 nhà tranh tre dột nát trị giá 548.778.000 đồng, xây dựng và duy trì 04 bếp ăn từ thiện cho bệnh nhân nghèo, chăm sóc mẹ Việt Nam anh hùng, mẹ liệt sĩ neo đơn, chăm lo cho gia đình chính sách, đóng góp xây dựng tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng với tổng trị giá 49.867.000 đồng.
Nhìn chung, công tác xã hội và từ thiện của các cấp hội trong nhiệm kỳ qua tiếp tục được phát huy, nhiều hoạt động đã trở thành phong trào và duy trì phát triển ngày càng sâu rộng, tạo được nét đặc sắc riêng cho hoạt động hội, góp sức cùng các ngành thực hiện chính sách xã hội cho nhân dân.
Trong công tác cán bộ nữ, Hội đã tham mưu cho Tỉnh ủy tổ chức tổng kết Chỉ thị 37 về công tác cán bộ nữ và ra nghị quyết tiếp tục thực hiện về công tác cán bộ nữ trong thời kỳ mới. Trong xây dựng luật pháp, chính sách, hội đã thể hiện được vai trò đại diện của tổ chức hội bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trên các mặt, phát huy trách nhiệm trong lĩnh vực đóng góp ý kiến cho nhiều văn bản luật, chính sách liên quan đến phụ nữ, kiểm tra, giám sát các vấn đề có liên quan đến quyền và lợi ích chính đáng của phụ nữ - trẻ em, quan tâm đến yếu tố giới thực hiện quyền bình đẳng nam nữ, tham gia góp ý luật Bình đẳng giới, tham gia các tổ hòa giải ở địa phương, phối hợp giải quyết các vấn đề xã hội liên quan đến phụ nữ - trẻ em, tham gia xử lý các vi phạm luật pháp nhất là vấn đề ngược đãi phụ nữ, trẻ em. Chủ động phối hợp với Ủy ban nhân dân các cấp triển khai thực hiện Nghị định 19/2003/NĐ - CP tạo điều kiện cho các cấp Hội Phụ nữ tham gia quản lý Nhà nước.
Nhiệm kỳ qua, các cấp Hội Phụ nữ trong tỉnh đã tích cực tham mưu, củng cố kiện toàn bộ máy hoạt động của hệ thống Ban vì sự tiến bộ các cấp, trên cơ sở đó Ban tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng, triển khai kế hoạch hành động giai đoạn 2001 - 2005 và tổ chức thực hiện. Cùng với hoạt động của Ban vì sự tiến bộ phụ nữ, Hội đã góp phần tuyên truyền nâng cao nhận thức và bình đẳng giới cho lãnh đạo các cấp Hội phụ nữ trong tỉnh. Phối hợp với Ban vì sự tiến bộ phụ nữ định kỳ giám sát việc thực hiện chính sách đối với phụ nữ. Thành lập trung tâm hỗ trợ kết hôn nhằm tư vấn, trang bị và giúp đỡ cho chị em những kiến thức cần thiết về pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân gia đình và các lĩnh vực khác.
Hội xác định xây dựng và phát triển tổ chức hội vững mạnh là nhiệm vụ trọng tâm, là vấn đề sống còn của tổ chức hội. Vì vậy, hội quan tâm đầu tư chỉ đạo công tác củng cố kiện toàn, phát triển tổ chức hội theo phương châm “Hướng về cơ sở, ở đâu có phụ nữ ở đó có tổ chức hội”, thông qua nhiều biện pháp cụ thể, thiết thực, thường xuyên chỉ đạo các cơ sở hội xây dựng lực lượng hội viên nòng cốt từ chi, tổ, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác hội đồng thời tạo điều kiện chăm lo đời sống cho đội ngũ cán bộ hội, củng cố chi, tổ hội. Có thể nói công tác xây dựng, củng cố tổ chức hội thực sự chuyển biến về chất cùng với việc chuyển hướng hoạt động của hội, tập trung tận địa bàn dân cư gắn với đổi mới nội dung phương thức hoạt động. So với đầu nhiệm kỳ tỷ lệ thu hút hội viên từ 49,58% tăng lên 64,04%(tăng 14,46%).
Việc duy trì sinh hoạt hội viên theo định kỳ, xây dựng lực lượng hội viên nòng cốt, thu hội phí và xây dựng quỹ hội được các cấp hội chỉ đạo chặt chẽ. Qua kiểm tra đánh giá chất lượng tổ chức hội viên đảm bảo sinh hoạt đạt 80%, hội viên nòng cốt chiếm tỷ lệ 18,43%; 100% cơ sở từ xã, phường, thị trấn đến chi tổ hội đều có quỹ hội. Cơ sở hội vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc luôn được quan tâm. Công tác đào tạo cán bộ chuẩn hóa được thực hiện bằng nhiều hình thức. Cán bộ hội các cấp đang theo học các lớp đào tạo nâng cao trình độ để từng bước chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, tham gia các lớp tập huấn và hội nghị chuyên đề về công tác của các ban chuyên môn do Trung ương hội tổ chức hàng năm. Bên cạnh đó, Hội còn tập trung bồi dưỡng, nâng cao kiến thức kỹ năng cho cán bộ chi, tổ hội, động viên để chị em ngày càng gắn bó với công tác hội. Số lượng cán bộ được đào tạo trong nhiệm kỳ tăng gấp mười lần so với nhiệm kỳ trước, vượt chỉ tiêu nghị quyết Đại hội đề ra. Có được kết quả này là do Hội phụ nữ tỉnh đã xác định được tầm quan trọng của công tác đào tạo, chuẩn hóa cán bộ nên đã tham mưu với Tỉnh ủy để phối hợp với Trường Chính trị tỉnh mở được 2 lớp Sơ cấp phụ vận và 1 lớp Trung cấp chính trị - Phụ vận tại tỉnh chủ yếu cho cán bộ nguồn, cơ sở. Công tác kiểm tra việc thực hiện nghị quyết và chấp hành điều lệ hội, kiểm tra hoạt động của tổ chức hội được các cấp hội triển khai thực hiện ngày càng đi vào nề nếp. Hội cũng đã tiến hành khảo sát thực trạng các cơ sở hội trong tỉnh, chú trọng công tác phát triển đảng viên nữ, giới thiệu cán bộ hội viên ưu tú đi học đối tượng Đảng để xem xét kết nạp Đảng. Tỷ lệ đảng viên nữ đầu nhiệm kỳ là 18,45% đến cuối nhiệm kỳ là 23,62% tăng 5,17%. Đội ngũ cán bộ qua đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện và qua hoạt động thực tiễn với sự nỗ lực phấn đấu của bản thân phụ nữ đã trưởng thành, từng bước vươn lên đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới. Nhiều cán bộ hội được tín nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đoàn thể và các tổ chức xã hội. Trong đó, trưởng phó đầu ngành cấp tỉnh là 26 đồng chí, lãnh đạo chủ chốt cấp huyện, thị là 152 đồng chí và cấp xã, phường, thị trấn là 330 đồng chí. Với những kết quả trên, 5 năm qua có 2 chị được đón nhận huân chương lao động, 192 chị được nhận kỷ niệm chương vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ, 166 chị nhận bằng khen của Ủy ban nhân dân tỉnh, Trung ương hội, 546 chị nhận giấy khen của Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh.
Trong nhiệm kỳ hội đã tổ chức triển khai một số hoạt động nhằm thực hiện tốt công tác vận động phụ nữ ở các xã và các huyện biên giới, phổ biến âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch và các loại tội phạm biên giới góp phần đảm bảo an ninh biên giới của tỉnh Bình Phước, tiếp đón và làm việc với phụ nữ Vương quốc Campuchia, tăng cường mối quan hệ đoàn kết hợp tác hữu nghị giữa hai nước góp phần nâng cao vai trò của Hội phụ nữ, đồng thời phối hợp với phụ nữ các tỉnh bạn tổ chức hội thảo để trao đổi thông tin và kinh nghiệm trong công tác đối ngoại. Công tác phối hợp với các ngành ngày càng được mở rộng, tăng cường xã hội hóa hoạt động của hội, chính vì vậy các cấp hội trở thành đối tác tin cậy của nhiều ngành như: Ngân hàng, Y tế, Công an, Biên phòng, Dân số...
Nhìn chung, giai đoạn 2001 - 2005, công tác hội và phong trào phụ nữ  đã có những chuyển biến tích cực, với phương châm chỉ đạo linh hoạt, sáng tạo, chất lượng hiệu quả, phương thức chỉ đạo bám cơ sở, bám mục tiêu toàn diện, dứt điểm, trọng tâm, trọng điểm. Chú trọng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, lồng ghép các mô hình, phối hợp tốt với các ngành có liên quan nên hỗ trợ phong trào phụ nữ có những bước phát triển mới, từng bước đưa Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VII, Nghị quyết Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ IX và Nghị quyết Đại hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh lần thứ VII vào cuộc sống của quần chúng phụ nữ thông qua việc chỉ đạo triển khai thực hiện phong trào thi đua yêu nước và 6 chương trình trọng tâm của hội có tác dụng lớn đối với phụ nữ trong việc giáo dục phẩm chất đạo đức truyền thống, nâng cao kiến thức mọi mặt, chăm lo đời sống sức khỏe, việc làm, giúp phụ nữ phát triển kinh tế có địa chỉ, thực hiện có hiệu quả mô hình gia đình “No ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc”... Tổ chức hội thực sự là nơi đại diện cho các tầng lớp phụ nữ trong tỉnh và thu hút phụ nữ tham gia tổ chức hội ngày càng cao. Các hoạt động của phong trào phụ nữ đã góp phần nâng cao vai trò phụ nữ trong việc phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, thể hiện rõ nét qua việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, con vật nuôi, phát triển doanh nghiệp, đào tạo nghề, giải quyết việc làm cùng với toàn tỉnh thực hiện có hiệu quả mục tiêu xóa đói giảm nghèo. Việc xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc đã tác động lớn đến từng gia đình, gắn với việc xây dựng gia đình văn hóa cơ sở, góp phần ngăn chặn tệ nạn xã hội từ gia đình, chăm sóc sức khỏe, góp phần hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn đó, trong quá trình chỉ đạo và thực hiện, các cấp hội vẫn còn những hạn chế cần khắc phục trên các lĩnh vực như trình độ năng lực cán bộ, hội viên, phụ nữ tuy có bước phát triển, song chưa đáp ứng yêu cầu cần phát triển của xã hội; việc tổng kết đánh giá rút kinh nghiệm và nhân rộng mô hình chưa được quan tâm đúng mức; đề ra nội dung hoạt động nhưng có lúc hướng dẫn chỉ đạo chưa cụ thể, thời gian thực hiện quá gấp nên chất lượng hoạt động chưa cao; nhận thức của xã hội và chính phụ nữ về bình đẳng giới còn những hạn chế nhất định. Tỷ lệ lao động nữ qua các lớp đào tạo và tỉ lệ cán bộ nữ tham gia vào công tác quản lý, lãnh đạo ở các cấp còn thấp. Công tác tuyên truyền, bồi dưỡng kiến thức cho phụ nữ vùng dân tộc, vùng sâu, vùng xa, lao động nữ trong các doanh nghiệp và phụ nữ tiểu thương chưa thường xuyên, đều khắp. Một số chị em phụ nữ chưa tích cực phấn đấu vươn lên trong học tập, công tác, tham gia phòng chống các tệ nạn xã hội. Khả năng tổ chức, quản lý điều hành và tuyên truyền của một số cán bộ hội, nhất là cơ sở còn hạn chế.
Công cuộc đổi mới đất nước trải qua hơn 40 năm và đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa về mọi mặt, tạo ra những tiền đề cần thiết cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước giai đoạn tiếp theo. Trong bối cảnh đó, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn vững vàng kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, tiếp tục sự nghiệp đổi mới. Từ ngày 22/6/1996 đến ngày 1/7/1996, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng họp tại Hà Nội và thành công rực rỡ. Đại hội đã đánh giá thành tựu 10 năm đổi mới (1986 - 1996), đề ra phương hướng, nhiệm vụ đổi mới toàn diện trong giai đoạn tiếp theo. Đại hội khẳng định tiếp tục sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Căn cứ vào yêu cầu khách quan đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, căn cứ vào nguyện vọng của nhân dân trong tỉnh; thực hiện Nghị quyết của kỳ họp lần thứ 10 (từ ngày 15/10 đến ngày 12/11/1996), Quốc hội khóa IX quyết định điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh. Trong đó, tỉnh Sông Bé tách ra thành hai tỉnh là Bình Phước và Bình Dương. Sau 20 năm hợp nhất, tỉnh Bình Phước được tái lập vào ngày 1/1/1997, tỉnh Bình Phước đi vào hoạt động theo đơn vị hành chính mới.
Sau khi tái lập, tỉnh Bình Phước có diện tích tự nhiên 6. 855,99 km2, dân số 851.802 người, mật độ trung bình dân số 84,89 người/km2, gần 5 huyện phía Bắc tỉnh Sông Bé: Đồng Phú, Bù Đăng, Phước Long, Bình Long và Lộc Ninh, với 64 xã, thị trấn. Ngày 1/9/1999, Chính phủ ban hành Nghị định số 90/NĐ - CP thành lập thị xã Đồng Xoài trên cơ sở các xã, thị trấn của huyện Đồng Phú. Tiếp đó, ngày 20/2/2003, Chính phủ ra Nghị định số 17/NĐ - CP về việc thành lập huyện Chơn Thành và Bù Đốp trên cơ sở tách một số xã, thị trấn các huyện Bình Long và Lộc Ninh. Đến năm 2005, Bình Phước đã có 8 huyện, thị và 94 xã, phường, thị trấn.
Việc tách tỉnh nhằm tạo điều kiện thuận lợi, đồng thời khai thác được tiềm năng thế mạnh và phát huy được nội lực của cả địa bàn Bình Dương, Bình Phước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tỉnh Bình Phước có điều kiện phát huy những ưu thế sẳn có để sớm trở thành một tỉnh giàu mạnh về mọi mặt. Đây là sự kiện có ý nghĩa lịch sử trong đời sống chính trị của Đảng bộ, nhân dân Bình Phước nói chung và phong trào phụ nữ trong tỉnh nói riêng.
Sau khi tách tỉnh, về cơ  cấu tổ chức, căn cứ vào các văn bản chỉ đạo của Trung ương và sự thống nhất của Tỉnh ủy, tháng 1/1997, Đoàn Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam có quyết định thành lập Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Bình Phước và chỉ định Ban Chấp hành lâm thời gồm... đồng chí. Đồng chí Nguyễn Thị Đào được chỉ định làm Chủ tịch và chính thức ngày 1/1/1997 đi vào hoạt động theo đơn vị hành chính mới, gồm 5 huyện Hội đó là: Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Đồng Phú, Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Bù Đăng, Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Phước Long, Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Bình Long, Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Lộc Ninh. Đến năm 2000 thành lập Hội Liên hiệp phụ nữ thị xã Đồng Xoài, năm 2003 thành lập thêm Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Chơn Thành và Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Bù Đốp gồm có 94 cơ sở hội phụ nữ xã, phường, thị trấn.
Từ khi thành lập, Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Bình Phước bước vào hoạt động của một tỉnh với nhiều khó khăn, thách thức. Một trong những tỉnh nghèo của cả nước, đời sống nhân dân trong tỉnh gặp rất nhiều khó khăn, GDP bình quân gần 180 USD người/ năm; cơ sở vật chất nghèo nàn lạc hậu, cán bộ các ngành ở tỉnh thiếu trầm trọng, kinh tế chủ yếu là nông - lâm nghiệp chiếm hơn 70%, còn thương nghiệp, công nghiệp, dịch vụ quá nhỏ bé; cơ sở hạ tầng thấp kém chưa đồng bộ, di dân tự do ngày càng đông, đồng bào dân tộc chiếm 20%. Với trình độ dân trí còn quá thấp, đời sống phụ nữ còn rất khó khăn, tỷ lệ đói nghèo cao, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn cao so với cả nước, nguồn ngân sách không đáp ứng nhu cầu chi thường xuyên, nhất là vốn đầu tư phát triển thiếu nghiêm trọng. Tỉnh có 240 km đường biên giới giáp với Campuchia, tình hình diễn biến rất phức tạp. Bên cạnh đó, khi cơ quan chuyển tỉnh lỵ đóng ở thị trấn Đồng Xoài - Đồng Phú, nơi ăn, ở và làm việc còn tạm bợ, cuộc sống, gia đình của nhiều chị em khá vất vả, đội ngũ cán bộ sắp xếp vào bộ máy mới chỉ ¼ so với yêu cầu biên chế. Những khó khăn, thách thức đó đặt ra cho Đảng bộ nhân dân Bình Phước nói chung và phụ nữ nói riêng một trách nhiệm hết sức nặng nề. Tuy vậy, lúc khó khăn thử thách, cũng là lúc chị em phụ nữ thể hiện được ý chí nghị lực, thể hiện niềm tin vào đường lối chính sách của Đảng, đặc biệt số chị em cán bộ tỉnh hội được phân công lên Bình Phước có quyết tâm cao tạo khí thế mới và biết thương yêu đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau, nỗ lực ổn định tổ chức, kiện toàn bộ máy cán bộ chuyên trách tỉnh hội và các cấp hội, nhằm thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền bình đẳng, dân chủ và quyền lợi hợp pháp của phụ nữ; triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và 5 chương trình trọng tâm của Hội đạt hiệu quả, dấy lên nhiều phong trào thi đua sôi nỗi, rộng khắp, góp phần tích cực vào xây dựng tỉnh Bình Phước từng bước đi vào ổn định và phát triển.
Tháng 4/1997, Đại hội phụ nữ tỉnh Bình Phước lần thứ VI được tổ chức. Căn cứ vào mục tiêu của phong trào phụ nữ, mục tiêu kinh tế của tỉnh nhà, Đại hội đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ, phát huy tiềm năng của phụ nữ trên mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội với mục tiêu:
- Đoàn kết rộng rãi các tầng lớp phụ nữ, phát huy mọi tiềm năng, sức sáng tạo tinh thần tự lực tự cường, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho phụ nữ góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội mà Đại hội tỉnh Đảng bộ đề ra.
- Đẩy mạnh phong trào rèn luyện, nhằm nâng cao kiến thức mọi mặt cho phụ nữ, phấn đấu vì sự bình đẳng và tiến bộ của phụ nữ.
- Giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc.
- Củng cố lực lượng hoạt động hội, phát triển hội viên, xây dựng tổ chức hội ngày càng vững mạnh nhằm phát huy vai trò đại diện chăm lo bảo vệ quyền lợi chính đáng hợp pháp của phụ nữ.
Để lãnh đạo phong trào phụ nữ trong tỉnh phấn đấu đạt những chỉ tiêu đó. Đại hội đã đề ra nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện 5 chương trình và 2 phong trào của Trung ương hội đề ra. Những nhiệm vụ và giải pháp cụ thể đó, Đại hội đại biểu Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh lần thứ VI đề ra và những định hướng giúp Ban Chấp hành Hội Phụ nữ khóa mới và các cấp hội trong lãnh đạo, điều hành và chỉ đạo thực tiễn. Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Hội Phụ nữ tỉnh, Ban Chấp hành họp bầu ra Ban Thường vụ. Đồng chí Nguyễn Thị Đào được bầu làm Chủ tịch Hội; Đại hội cũng bầu đại biểu đi dự Đại hội phụ nữ toàn quốc.
Ngày 19 và 20/5/1997, Đại hội đại biểu phụ nữ Việt Nam lần thứ VIII  họp tại Hà Nội. Đại hội đề ra mục tiêu: đoàn kết đổi mới vì bình đẳng, phát triển và hòa bình, vì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Để nhiệm vụ của hội trong gia đình cách mạng mới phù hợp với nhiệm vụ kinh tế - xã hội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng. Đồng thời căn cứ vào chức năng và khả năng hoạt động thực tế của các cấp hội, 5 chương trình trọng tâm của hội nhiệm kỳ VII tiếp tục được thực hiện nhưng ở mức cao hơn, là sự thừa kế và phát triển trong điều kiện, hoàn cảnh thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đồng thời phát động phong trào phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình hạnh phúc, tiếp tục thực hiện phong trào “Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình”.
Bước sang giai đoạn 1997 - 2001, phong trào phụ nữ cao hơn so với những năm trước, không dừng lại ở giúp nhau làm kinh tế gia đình để ổn định cuộc sống mà là giúp nhau phát triển kinh tế gia đình để làm giàu, đáp ứng yêu cầu thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chính vì vậy mà Nghị quyết Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ VIII vẫn quyết định nội dung hoạt động của phong trào phụ nữ thực hiện trên cơ sở 5 chương trình trọng tâm như Đại hội lần thứ VII song đòi hỏi phải sâu hơn, rộng hơn. Đại hội quyết định bổ sung nội dung vào các chương trình như sau:
Chương trình 1: Giáo dục bồi dưỡng, nâng cao kiến thức trình độ và năng lực cho phụ nữ.
Chương trình 2: Vận động phụ nữ nghiên cứu ứng dụng khoa học, công nghệ; hỗ trợ phụ nữ tạo việc làm tăng thu nhập.
Chương trình 3: Chăm sóc sức khỏe phụ nữ, trẻ em, thực hiện kế hoạch hóa gia đình, nuôi con tốt, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc.
Chương trình 4: Xây dựng tổ chức hội vững mạnh.
Chương trình 5: Nghiên cứu và kiểm tra giám sát.
Ngày 8/3/1998, Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam ra lời kêu gọi và phát động phụ nữ cả nước thực hành tiết kiệm, tích cực học tập, nuôi con tốt. Đoàn Chủ tịch Trung ương hội phát động 2 phong trào:
1. Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình cần kiệm xây dựng đất nước.
2. Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình hạnh phúc.
Thực hiện triển khai Nghị quyết Đại hội Hội Liên hiệp phụ nữ toàn quốc lần thứ VIII, Nghị quyết Đại hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh lần thứ VI, cùng với phong trào phụ nữ cả nước, các tầng lớp phụ nữ trong tỉnh luôn tin tưởng vào đường lối đổi mới của Đảng, hưởng ứng các phong trào hành động cách mạng do Trung ương hội phát động, các cấp hội đã năng động sáng tạo, đổi mới phương thức hoạt động, vừa chăm lo thiết thực tới lợi ích của phụ nữ, vừa giáo dục động viên chị em thực hiện tốt 2 phong trào và 5 chương trình công tác trọng tâm do Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ VIII và Đại hội phụ nữ Bình Phước lần thứ VI đề ra.
Trên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, với sự đóng góp to lớn của phụ nữ nông thôn, một lực lượng chiếm gần 70% trên tổng số phụ nữ trong tỉnh. Mặc dù phải đứng trước những vấn đề rất khó khăn như: về kinh tế, thiếu vốn, giá cả nông sản không ổn định, thêm vào đó khí hậu khắc nghiệt với những hậu quả nặng nề liên tiếp xảy ra trong nhiều năm trong phạm vi cả tỉnh. Nhưng với bản tính cần cù, tiết kiệm và bản lĩnh vượt khó chị em đã không quản ngại vất vả khó khăn để đầu tư phát triển cây cao su, tiêu, điều, cà phê... tăng năng suất cây lương thực. Chị em đã biết áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng nhiều chị làm kinh tế giỏi, tăng thu nhập gia đình, tăng nguồn lương thực thực phẩm cho xã hội.
Về công nghiệp tuy chỉ chiếm 3,5% lao động trong nền kinh tế - xã hội của tỉnh, chủ yếu công nghiệp chế biến nông sản. Nhưng lao động nữ trong ngành là 54,34%. Các chị đã khắc phục những khó khăn riêng để vượt qua những thách thức của cơ chế thị trường, chịu khó hcọ tập, nghiên cứu nâng cao trình độ chuyên môn. Qua các hội thi có 52 chị đạt danh hiệu kiện tướng trong các thợ thi giỏi trong các công ty cao su, 7 chị đạt danh hiệu “Bàn tay vàng”. Trong tỉnh có 3 giám đốc nữ đều là doanh nghiệp làm ăn phát triển.
Đối với lực lượng nữ công nhân viên chức là đội ngũ góp phần đáng kể vào nhiệm vụ hoàn thành chỉ tiêu kinh tế - xã hội trong những năm đầu mới tái lập tỉnh. Nữ công nhân viên chức tham gia thực hiện tốt phong trào phụ nữ “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”, “Nuôi con khỏe, dạy con ngoan”, “Dân số và kế hoạch hóa gia đình”. Chị em cố gắng vươn lên trong công tác, học tập, góp phần thực hiện thắng lợi 5 chương trình trọng tâm và 2 phong trào thi đua do Trung ương hội phát động. Ngoài ra, chị em đã cố gắng học hỏi kinh nghiệm, cung cách làm ăn, nhằm ổn định đời sống và phát triển sản xuất, kinh doanh, phấn đấu làm ăn có kết quả nâng cao chất lượng sản phẩm.
Trên lĩnh vực văn hóa - xã hội, chị em cũng tham gia đều khắp, góp phần quan trọng vào thành tựu chung của tỉnh. Chị em trong ngành y tế, giáo dục tuy gặp nhiều khó khăn nhưng đã đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển giáo dục và chăm lo sức khỏe cho nhân dân. Nhiều chị đã tận tâm với nghề nghiệp, đem tài năng trí tuệ của mình phục vụ nhân dân. Ngành giáo dục - đào tạo có hàng trăm giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh và toàn quốc. Đa số nữ công nhân viên chức khối hành chính sự nghiệp đã phấn đấu thi đua nâng cao chất lượng công tác và học tập rèn luyện, chị em làm khoa học kỹ thuật có nhiều nghiên cứu và ứng dụng thành công vào sản xuất, phục vụ sức khỏe và đời sống. Trong phong trào chung đó, có hàng chục đề tài khoa học và sáng kiến làm lợi cho nhà nước hàng chục triệu đồng.
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và nhà nước khuyến khích các thành phần kinh tế. Chị em tiểu thương, các doanh nghiệp nữ đã tham gia sản xuất kinh doanh trên nhiều lĩnh vực như: mở dịch vụ khách sạn, sản xuất các mặt hàng may mặc, chế biến nông sản... Để đứng vững trên thương trường có chị đã nghiên cứu thị trường mạnh dạn thay đổi mẫu mã, áp dụng kỹ thuật công nghệ mới, phát triển thêm mặt hàng mới phù hợp với nhu cầu xã hội, đưa doanh nghiệp ngày càng phát triển, đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong và ngoài nước, tiêu biểu như chị Phạm Thị Mỹ Lệ - Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Mỹ Lệ, đóng góp hàng năm vào ngân sách nhà nước hàng tỷ đồng. Nhiều doanh nghiệp nữ đã linh hoạt chuyển đổi phương thức làm ăn mới trong kinh doanh có hiệu quả trụ vững trong cơ chế thị trường. Tuy phong trào chưa phát triển đều khắp, còn gặp nhiều khó khăn, nhưng qua thực tế các chị đã tỏ rõ bản lĩnh, tài năng, nhanh nhạy thích ứng với cơ chế mới để tổ chức sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao, đóng góp đáng kể vào việc tạo thêm việc làm mới cho người lao động, tạo ra những sản phẩm có chất lượng phục vụ cho xã hội và làm giàu chính đáng.
Trên mặt trận quốc phòng - an ninh, dù hoàn cảnh nào, chị em vẫn giữ vững truyền thống tốt đẹp bộ đội cụ Hồ “Trung với nước, hiếu với dân”, khắc phục khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Chị em các đồng bào dân tộc luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, khắc phục khó khăn. Đời sống của đại đa số đồng bào dân tộc được nâng lên, một bộ phận vươn lên khá giả, so với năm 1997 đến năm 2002 số hộ nghèo còn 19,13%, giảm 20,65%. Tỷ lệ hộ có nhà kiên cố và bán kiên cố là 37,5% tăng 8,15%, hộ sử dụng điện là 24,21%, tăng 20,5%; hộ sử dụng nước sạch cuối năm 2002 là 78,91%. Xây dựng khối quân dân thống nhất, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, góp phần bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới.
Bên cạnh nghĩa vụ công dân, người phụ nữ hơn ai hết còn gánh nặng trách nhiệm gia đình. Những năm qua trong cơ chế thị trường đã giúp các chị có những cơ hội, điều kiện để chị em phát triển tài năng, tự khẳng định mình vươn lên làm giàu chính đáng. Bên cạnh đó, mặt trái của cơ chế thị trường cũng rất khắc nghiệt, chị em phải đương đầu với những tệ nạn xã hội, để bảo vệ gia đình, nuôi dạy con cái tạo dựng cuộc sống gia đình ấm no, hạnh phúc và tiến bộ.
Trong nhiều năm qua, phong trào xây dựng gia đình văn hóa phát triển tương đối rộng và đi vào cuộc sống được các tầng lớp nhân dân hưởng ứng. Đến năm 2000, đã đạt được một số kết quả có 58,1% số hộ được công nhận và 348 khu đạt khu văn hóa, hàng ngàn gia đình đã đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa mới là sự minh chứng cụ thể những nỗ lực và công lao to lớn của chị em trong việc xây dựng gia đình.
Hưởng ứng 2 phong trào “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình hạnh phúc”, “Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình, cần kiệm xây dựng đất nước” do Trung ương hội phát động được mọi tầng lớp phụ nữ hưởng ứng mạnh mẽ tại Đại hội Hội Liên hiệp phụ nữ Bình Phước đã phát động phong trào thi đua sôi nổi và đã tạo thành một không khí thi đua mạnh mẽ giữa các địa phương, đơn vị vì nội dung của hai phong trào này rất thiết thực, phù hợp với yêu cầu của công cuộc đổi mới . Trong chỉ đạo phong trào hội đã chú trọng đến hiệu quả, hướng các hoạt động của mọi tầng lớp phụ nữ thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương.
Gắn liền với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư” Hội đã đẩy mạnh phong trào phụ nữ thực hiện các chương trình giáo dục, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, năng lực cho chị em nhằm chuyển biến về nhận thức, về các mặt trong cuộc sống xã hội. Chương trình “Chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ - trẻ em, thực hiện kế hoạch hóa gia đình, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình hạnh phúc” được các cấp Hội Phụ nữ đặc biệt quan tâm. Vai trò phụ nữ trong việc thực hiện các chương trình xã hội ngày càng được khẳng định. Nhiều hình thức hoạt động rất có hiệu quả như: câu lạc bộ “Sức khỏe sinh sản”, câu lạc bộ “Phụ nữ không sinh con thứ 3”, tư vấn nhóm tổ, tổ chức các hội thi. Nhiều chương trình thi đua ngắn ngày như: “Tháng vệ sinh môi trường”, “Tháng hành động vì trẻ em”, “Ngày vì người nghèo”...
Trong lĩnh vực đào tạo nghề và giới thiệu việc làm, Hội Phụ nữ giúp đỡ giới thiệu việc làm trong các công ty - xí nghiệp. Trung tâm dịch vụ việc làm của Hội Phụ nữ đã mở nhiều lớp dạy may công nghiệp và giới thiệu việc làm tại các xí nghiệp may trên 3.000 lao động. Đặc biệt, công tác xóa đói giảm nghèo đã giúp chị em phụ nữ nghèo nâng cao vị trí của mình trong gia đình và xã hội với đồng vốn nhỏ được giúp, chị em đã sản xuất có hiệu quả tổ chức cuộc sống gia đình ngày càng tốt hơn. Đến nay tổng nguồn vốn được khai thác do hội quản lý trên 51 tỷ 867 triệu đồng giúp cho 59.019 hộ vay. Cùng với việc tạo vốn và cho vay, các cấp Hội Phụ nữ đã lồng ghép các hoạt động nâng cao trình độ quản lý vốn và áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chăn nuôi sử dụng vốn vay có hiệu quả, góp phần giảm tỷ lệ nghèo đói trong tỉnh. Hàng năm giảm 2,54% năm, trong 3 năm 1998 - 2001 đã giảm 8.622 hộ nghèo đói, giải quyết việc làm hàng năm từ 10.000 - 12.000 người; tỷ lệ người thất nghiệp giảm từ 2,26% (năm 1997) xuống còn 4,2% (năm 2000).
Phong trào của phụ nữ tỉnh Bình Phước tuy đạt được nhiều kết quả, song vẫn còn những mặt hạn chế nhất định. Tình hình đời sống phụ nữ nông thôn nhất là chị em vùng sâu, vùng xa còn nhiều thiếu thốn, thiệt thòi, vấn đề việc làm cho chị em rất khó: do trình độ thấp, lao động phổ thông là chính. Một bộ phận phụ nữ còn tự ty, an phận, thiếu phấn đấu vươn lên. Quan niệm trọng nam khinh nữ vẫn còn nặng nề ở nông thôn, các chính sách chế độ đối với lao động nữ chưa được thực hiện hay không có biện pháp để thực hiện. Bên cạnh đó vẫn còn tệ nạn ngược đãi bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình. Hiện nay phụ nữ mù chữ và tái mù chữ vẫn còn ở trong vùng đồng bào dân tộc ít người, phụ nữ nghèo; trình độ học vấn còn thấp đã làm hạn chế tiếp thu về các chủ trương, chính sách, các thông tin mới trong sản xuất, khoa học kỹ thuật, không phát triển thêm về tay nghề chuyên môn dẫn đến đời sống chị em còn nhiều khó khăn. Bên cạnh đó gánh nặng gia đình đã khiến chị em không còn thời gian để tham gia các hoạt động xã hội cũng như các cơ hội để phát triển bản thân mình.
Về vấn đề giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao nhận thức, trình độ kiến thức mọi mặt cho phụ nữ, chăm sóc sức khỏe phụ nữ - trẻ em, thực hiện dân số - kế hoạch hóa gia đình tham gia phòng chống các tệ nạn xã hội, HIV/AIDS... vận động phụ nữ tham gia thực hiện hiệu quả các chương trình văn hóa - xã hội; được các cấp hội xác định là công tác thường xuyên và là nhiệm vụ hàng đầu, nhằm giúp phụ nữ có kiến thức cần thiết, nâng cao trình độ năng lực, giữ gìn phẩm chất đạo đức truyền thống và văn hóa dân tộc, tạo điều kiện phụ nữ tham gia mọi hoạt động kinh tế - xã hội và tổ chức cuộc sống gia đình, nâng cao vị thế của phụ nữ, thực hiện nam nữ bình đẳng.
Xuất phát từ tình hình thực tế là một tỉnh sản xuất nông nghiệp có gần 70% hội viên phụ nữ nông thôn, với trình độ văn hóa còn thấp việc bồi dưỡng nâng cao trình độ kiến thức, hiểu biết cho cán bộ, hội viên phụ nữ về mọi mặt là rất cần thiết. Hội quán triệt học tập các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước của hội cấp trên. Triển khai các luật như: luật hôn nhân gia đình, luật bảo vệ chăm sóc trẻ em, luật đất đai, luật lao động, luật hình sự, công ước cedau... Đặc biệt là Nghị quyết  04 của Bộ Chính trị về “Đổi mới công tác phụ nữ trong tình hình mới” nhằm bồi dưỡng nâng cao hiểu biết cho chị em.
Hội phụ nữ tỉnh, huyện mở các lớp bồi dưỡng kiến thức về công tác hội cho các cán bộ chuyên trách, cán bộ phụ nữ dân tộc. Để tạo điều kiện cho chị em nâng cao năng lực công tác. Bên cạnh đó, Hội Phụ nữ các cấp đã chú trọng tổ chức các chuyên đề, lồng ghép các chương trình và các buổi sinh hoạt tổ, nhóm, câu lạc bộ, đẩy mạnh công tác truyền thông cuốn sách “Những điều cần cho sự sống” chuyên đề về giới, về hạnh phúc gia đình, chăm sóc sức khỏe, kiến thức về nuôi dạy con, kế hoạch hóa gia đình, phòng chống các tệ nạn xã hội trong gia đình... Ngoài những nhiệm vụ bồi dưỡng kiến thức hiểu biết cho phụ nữ, các cấp hội còn phối hợp với ngành giáo dục đào tạo tổ chức vận động xóa mù chữ cho phụ nữ vùng sâu, vùng xa.
Với phương châm đa dạng hóa hình thức, nội dung tuyên truyền, Hội đã thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như: báo, đài phát thanh truyền hình để thông tin cổ động 2 phong trào, 5 chương trình của Hội và gương phụ nữ điển hình tiên tiến... Tổ chức các hội thi, hội thảo như: “Bà mẹ nuôi dạy con giỏi”, “Cán bộ hội giỏi”, “Bữa ăn dinh dưỡng trong gia đình”..., thi tìm hiểu về “Sức khỏe sinh sản”, phòng chống các tệ nạn xã hội, liên hoan gia đình hạnh phúc, hội thi “Bàn tay vàng” trong sản xuất... Chính nhờ hình thức, hoạt động phong phú đa dạng nên đã thu hút đông đảo chị em ở các tầng lớp tham gia vào tổ chức hội, tham gia các phong trào do hội phát động một cách sôi nổi, nhiệt tình. Ngoài ra, còn các hình thức sinh hoạt truyền thống của hội được tổ chức hàng năm như ngày lễ 8/3, 20/10 đã trở thành ngày hội lớn của phụ nữ. Các cấp Hội Phụ nữ đã có những hình thức và nội dung hoạt động phong phú như mittinh, tọa đàm, gặp mặt, nói chuyện chuyên đề, giao lưu câu lạc bộ, văn hóa - văn nghệ, thể dục thể thao... Kết quả 100% các cấp hội ở cơ sở, huyện, thị, các đơn vị nữ công trong tỉnh đã tổ chức kỷ niệm rất sinh động và có nhiều sáng tạo.
Trong tình hình đất nước tiếp tục thực hiện cơ chế kinh tế thị trường, cùng với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tình hình kinh tế - văn hóa - xã hội có những chuyển biến mạnh mẽ, tạo ra môi trường thuận lợi cho phụ nữ khẳng định vai trò và năng lực của mình trong xã hội và gia đình. Song, bên cạnh đó sự tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường cũng đã làm nẩy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực trong đời sống đã ảnh hưởng đến lối sống đạo đức và phẩm chất một số người trong xã hội, trong đó có một bộ phận phụ nữ. Được sự định hướng của Trung ương hội, Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Bình Phước đã hưởng ứng cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa mới, giáo dục nâng cao trách nhiệm làm mẹ trong giai đoạn mới đã có tác động lớn, góp phần làm thay đổi nhận thức của người mẹ trong gia đình và xã hội, nâng cao tinh thần cảnh giác, phòng chống và phát hiện các tệ nạn xã hội từ trong gia đình, chống buôn bán phụ nữ - trẻ em, chống bạo lực trong gia đình. Hội cũng mở các lớp tập huấn về giới cho các ứng cử viên Hội đồng nhân dân và các vị lãnh đạo để có chuyển biến về giới, để nhìn nhận về bình đẳng giới trong thực hiện các chủ trương, chính sách.
Công tác phối hợp với các ngành chức năng như dân số - kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe ban đầu, phòng chống tệ nạn xã hội, HIV/AIDS, các bệnh xã hội, chương trình xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, vệ sinh môi trường... Đặc biệt là các chương trình quốc gia đều được Hội Phụ nữ ký kết liên tịch thực hiện có hiệu quả. Là thành viên của Ủy ban dân số - kế hoạch hóa gia đình hàng năm, Hội Phụ nữ đã tổ chức tập huấn về kỷ năng truyền thông, kỷ năng tư vấn cho cán bộ chuyên trách và 160 chủ tịch, phó chủ tịch xã, phường, thị trấn, mở lớp tập huấn về nội dung phòng chống HIV/AIDS, tổ chức các cuộc nói chuyện chuyên đề về dân số - kế hoạch hóa gia đình, các biện pháp tránh thai, sinh hoạt câu lạc bộ... Cùng với việc tuyên truyền, giáo dục Hội Phụ nữ các cấp đã chỉ đạo các hội thi như “Nữ tuyên truyền viên giỏi về dân số - kế hoạch hóa gia đình”, hội thi “Gia đình hạnh phúc”, tham gia vận động thực hiện kế hoạch hóa gia đình, là đội ngũ cán bộ Hội Phụ nữ làm công tác chuyên trách, tuyên truyền viên gồm 799 chị ở các cơ sở, các cấp hội đã chỉ đạo xây dựng các câu lạc bộ “Phụ nữ không sinh con thứ 3”, đến nay đã thành lập được 33 câu lạc bộ, 199 tổ nhóm phụ nữ không sinh con thứ 3. Tỉnh hội tiếp nhận dự án VIE/97/P02 (UNFPA) và đã thành lập được 43 câu lạc bộ “Sức khỏe sinh sản” với 1.400 thành viên tham gia. Trong nhiều năm qua, Hội Phụ nữ đã chủ động phối hợp làm tốt công tác truyền thông cũng như vận động thực hiện kế hoạch hóa gia đình góp phần hạ tỷ suất sinh trong chỉ tiêu dân số hàng năm của tỉnh từ 22,36% năm 1997 xuống còn 20,12% năm 2000.
Công tác chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ cũng được các cấp hội đặc biệt quan tâm. Vào các ngày 8/3 và 20/10, Hội đã phối hợp với Trung tâm bảo vệ bà mẹ trẻ em, tổ chức khám sức khỏe cho phụ nữ, trẻ em, phụ nữ các xã, phường, thị trấn trong tỉnh được tổ chức khám và điều trị bệnh phụ khoa. Vận động 17.237 lượt chị em đi khám thai và tiêm phòng uốn ván, nhiều chị em trong tỉnh cũng được khám và cấp thuốc miễn phí các bệnh như sốt rét, bướu cổ, lao...
Công tác phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ em cũng được đặc biệt chú trọng, Hội Phụ nữ đã cung cấp hàng ngàn cuốn sách “Những điều cần cho sự sống” đưa xuống các xã, phường, thị trấn, các câu lạc bộ, tổ nhóm của hội, cung cấp kiến thức nuôi dạy con theo khoa học cho các bà mẹ có con từ 0 - 5 tuổi. Hướng dẫn kiến thức về bữa ăn hợp lý trong gia đình, hướng dẫn chị em có con suy dinh dưỡng biết cách nấu ăn cho các cháu, Hội Phụ nữ các cấp đã phối hợp với y tế tổ chức khám định kỳ cho các cháu, tổ chức vận động các bà mẹ đưa con đi uống Vitamin A, tiêm chủng 6 bệnh nguy hiểm hàng năm, có 95% trẻ em được tiêm chủng 6 bệnh nguy hiểm. Có kế hoạch triển khai hưởng ứng phong trào trồng cây ăn quả, vườn thuốc nam, xây dựng quỹ tình thương, quỹ tuổi thơ, quỹ học bổng giúp trẻ em nghèo vượt khó, trẻ em đặc biệt khó khăn, trẻ em nghèo, trẻ em tàn tật, lang thang cơ nhỡ...
Ngoài các hoạt động trên, Hội còn đặc biệt quan tâm đến chị em vùng dân tộc, vùng sâu, vùng xa. Do đặc thù riêng của một tỉnh trung du miền núi, trình độ dân trí thấp, phương tiện đi lại rất khó khăn nhất là mùa mưa đồng bào dân tộc ít người tập trung tại các xã vùng sâu, vùng xa nên việc chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ - trẻ em, nhất là các bà mẹ đang mang thai rất khó khăn. Hội Phụ nữ tỉnh đã tranh thủ sự giúp đỡ của bệnh viện phụ sản Từ Dũ đào tạo 112 nữ hộ sinh người dân tộc ở Bù Đăng, Lộc Ninh, Phước Long. Các nữ hộ sinh đã phát huy tác dụng tốt giúp chị em mang thai ở vùng sâu, vùng xa yên tâm hơn khi sinh đẻ. Công tác quản lý mang thai, chăm sóc thai phụ của các nữ hộ sinh tốt hơn ở vùng đồng bào dân tộc được ngành y tế tỉnh đánh giá cao và góp phần cùng toàn ngành y tế hạ tỷ lệ tử vong cho mẹ và trẻ sơ sinh từ 114,58%o năm 1997, xuống còn 36,18%o năm 2000. Ngoài ra, hàng năm Hội Phụ nữ còn tham mưu để cấp bảo hiểm y tế miễn phí cho 3.142 lượt phụ nữ nghèo và cán bộ hội người dân tộc.
Ngoài các hoạt động trên, thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương hội, và thực hiện Nghị định 05,06 và Nghị quyết 20 của Chính phủ về tình hình các tệ nạn xã hội, các cấp hội đã phối hợp với các ngành Công an phát hiện và đề xuất với chính quyền để có biện pháp ngăn ngừa, đồng thời phối hợp với Trung tâm phòng chống các tệ nạn xã hội vận động chị em lầm lỡ trở về làm ăn lương thiện 30 chị, giúp đỡ 20 chị phụ nữ nghiện ma túy cai nghiện tại cộng đồng.
Bằng nhiều hình thức tuyên truyền và bằng nhiều phương tiện khác nhau, công tác bồi dưỡng giáo dục nâng cao kiến thức và năng lực cho chị em đã dẫn đến nhiều chuyển biến tốt trong nhận thức, tư tưởng và cả trong hành động. Đại bộ phận chị em đã đổi mới trong cách làm ăn kinh tế, biết cách tổ chức cuộc sống gia đình, nuôi dạy con cái theo khoa học, biết chăm sóc sức khỏe cho chính bản thân và gia đình, quan tâm đến lợi ích cộng đồng và xã hội. Tuy vậy, một số chị em còn chậm đổi mới về nhận thức, một số cơ sở hội do trình độ không đồng đều nên hoạt động còn hạn chế chưa chuyển đổi kịp so với yêu cầu hoạt động của hội, nhất là những cơ sở địa bàn rộng đi lại khó khăn, việc tập hợp quần chúng phụ nữ lại càng khó khăn hơn. Công tác xóa mù chữ đối với các cán bộ hội chủ chốt cơ sở thực hiện tốt không còn chị em mù chữ nhưng với các phụ nữ trẻ em gái vẫn còn. Về chăm sóc sức khỏe từ năm 1997 trẻ em suy dinh dưỡng là 40% đến nay trẻ em suy dinh dưỡng trong toàn tỉnh giảm còn 38%. Trong đó trẻ ở các xã có chương trình hỗ trợ của Ủy ban bảo vệ chăm sóc trẻ em giảm còn 32%, theo thống kê bước đầu cho thấy đã giảm 9% so với năm mới tách tỉnh. Về kế hoạch hóa gia đình tỷ suất sinh cũng giảm, cụ thể năm 1997 là 29,13%o đến nay còn 25,11%o, giảm 4,03%o.
Tuy nhiên một số chương trình phối hợp với các ngành chức năng đã được kí kết nhưng hiệu quả thực hiện đôi lúc chưa cao do sự phối hợp chưa đồng bộ, bên cạnh đó kinh phí của nhiều chương trình chưa được xác định rõ ràng nên phần nào cũng ảnh hưởng ít nhiều đến phong trào.
Để cải thiện nâng cao vị thế kinh tế cho phụ nữ là một trong những biện pháp thiết thực nâng cao địa vị người phụ nữ trong gia đình, ngoài xã hội là phát triển kinh tế gia đình. Ổn định kinh tế gia đình là điều kiện để chị em phụ nữ có thời gian học tập, nâng cao trình độ và tham gia hoạt động xã hội. Xói đói giảm nghèo là chủ trương lớn của Đảng và nhà nước, Hội phụ nữ các cấp trong nhiệm kỳ qua cũng đã nỗ lực thực hiện bằng nhiều hình thức hết sức phong phú, đa dạng.
Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình trong từng thôn ấp bằng tiền mặt, cho vay không lãi, cây giống, vật nuôi, bằng kinh nghiệm sản xuất, bằng vần đổi công đã trở thành nét đẹp phụ nữ trong tình nghĩa lá lành đùm lá rách, chị ngã em nâng. Đây là hình thức tuy âm thầm nhưng thiết thực, có hiệu quả cao. Các hình thức tổ nhóm TDTK từ nguồn “Tiết kiệm vì phụ nữ”, vốn 120 giải quyết việc làm, các nhóm xoay vòng vốn tự nguyện của các chi tiểu tổ hội, cho đến các tổ chức tín dụng cho các chị em phụ nữ nghèo, phụ nữ dân tộc bằng vốn các tổ chức phi chính phủ: Fao, Cidse, Oxfam, vốn xói đói giảm nghèo của tỉnh và các nguồn vốn tín chấp ngân hàng cũng được Hội Phụ nữ các cấp huy động cho chị em nghèo vay, tất cả đều phát huy được hiệu quả tốt trong nhiều năm qua. Bên cạnh các nguồn vốn vay, Hội phụ nữ các cấp tập huấn sử dụng quản lý vốn, phối hợp với các cơ quan chức năng tập huấn công tác khuyến nông, cung cấp kiến thức chăn nuôi trồng trọt theo khoa học kỹ thuật đã giúp chị em tránh được nhiều rũi ro, mất vốn trong sản xuất nông nghiệp. Ngoài các tổ vay vốn phát triển kinh tế gia đình, chị em phụ nữ còn có các nhóm xoay vòng vốn để mua sắm dụng cụ gia đình, sửa sang nhà cửa, xây dựng các công trình phụ của gia đình. Mô hình xóa nhà tranh làm nhà ngói (tôn) nền xi măng cũng được duy trì tốt.
Nhu cầu việc làm của phụ nữ cũng rất bức thiết, nhiều chị em cũng được Hội Phụ nữ giúp đỡ giới thiệu việc làm trong các công ty, xí nghiệp (xí nghiệp chế biến nông sản hạt điều, bột mì, xí nghiệp làm đũa) hoặc học may công nghiệp, đào tạo nghề may và giới thiệu việc làm tại các xí nghiệp may trong và ngoài tỉnh. Hỗ trợ vốn tạo việc làm cho phụ nữ là một trong những biện pháp nhằm xói đói giảm nghèo. Hội còn lồng ghép các công tác kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản, xóa mù chữ, nước sạch môi trường... đã có tác động lâu dài và bền vững cho việc xói đói giảm nghèo. Đây là nhận thức hết sức quan trọng mà trong công cuộc xói đói giảm nghèo chị em cán bộ hội các cấp đã biến thành các biện pháp tốt để thực hiện ở địa phương. Tổng số hội viên phụ nữ nghèo: 6.664, số hộ đói 2.262. Đến nay hội đã giúp cho 1.289 chị xóa được đói và 1.422 chị giảm nghèo. Số chị em vươn lên ổn định kinh tế 6.843 đạt tỷ lệ 76,66%.
Các cấp hội luôn đặc biệt quan tâm đến phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”. Nhân các ngày lễ, tết cổ truyền của dân tộc, hội tổ chức thăm hỏi các gia đình chính sách, các gia đình thương binh liệt sĩ, có công với đất nước, đỡ đầu 19 con liệt sĩ; nhận bảo dưỡng chăm sóc thường xuyên 20 mẹ liệt sĩ cô đơn, mẹ Việt Nam anh hùng. Quyên góp tặng 243 sổ tiết kiệm trị giá 90 triệu đồng và 133 triệu đồng xây dựng nhà tình nghĩa. Giúp 2.889 ngày công lao động gặt hái vụ mùa, sửa chữa nhà cửa cho phụ nữ đơn thân, gia đình khó khăn. Làm nhà tình thương, hủ gạo tình thương đã làm ấm lòng người nghèo cơ nhỡ. Các cấp Hội còn vận động ủng hộ đồng bào bị lũ lụt miền Trung, miền Tây, với tấm lòng nhường cơm xẻ áo, vì đồng bào ruột thịt trên 217 triệu đồng với nhiều hàng hóa khác. Ngoài ra, hội còn thể hiện tình quân dân như cá với nước, nhân dịp các ngày lễ như 22/12,3/3, tết Nguyên đán... tổ chức chị em đi thăm hỏi, tặng quà cho cán bộ đồn biên phòng và các đơn vị bộ đội đóng quân trên địa bàn tỉnh với số tiền trị giá là 333 triệu đồng. Song song với các chương trình trên, Hội phụ nữ tỉnh cùng các cấp hội trong lĩnh vực đối ngoại, Hội Phụ nữ tỉnh đã nhận được sự tài trợ của các tổ chức nước ngoài trong các lĩnh vực y tế, dân số, vay vốn để phát triển cộng đồng, bảo vệ rừng như tổ chức FAO, CIDSE, OXFAM, UNFPA, Thụy Điển, Đan Mạch, Canada... Bên cạnh đó, hội cũng tỏ rõ ý chí của các tầng lớp phụ nữ bằng việc lấy hàng ngàn chữ ký phụ nữ Bình Phước ủng hộ “Ngày đi bộ của phụ nữ thế giới đấu tranh chống đói nghèo và chống bạo lực đối với phụ nữ”. Ủng hộ phụ nữ Cuba 50 triệu đồng với tấm lòng chia sẽ và thông cảm. Các chị em vay vốn hội đã thực hiện tốt các mô hình lồng ghép như sức khỏe sinh sản, khuyến nông... đều đạt hiệu quả tốt.
Nghiên cứu tham gia xây dựng chế độ, chính sách, pháp luật, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế độ, chính sách, pháp luật có liên quan trực tiếp đến phụ nữ - trẻ em; thực hiện quyền đại diện tham gia quản lý nhà nước của tổ chức hội.
Đây là chương trình đòi hỏi Hội Phụ nữ phải nỗ lực học tập rèn luyện nâng cao trình độ về mọi mặt để tiếp cận với các vấn đề xã hội có liên quan đến phụ nữ và trẻ em, thực hiện quyền kiểm tra giám sát của hội để nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng. Các cấp hội đã tổ chức học tập Nghị quyết 04 của Bộ Chính trị về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới, Chỉ thị 37 của Bộ Chính trị về công tác cán bộ, Nghị quyết 07 - NQ/TU của Tỉnh ủy về phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, dân tộc, Nghị quyết 08 - NQ/TU của Tỉnh ủy về xói đói giảm nghèo,... Đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng; phê và tự phê bình theo Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII. Các cấp hội chỉ đạo cán bộ, hội viên quán triệt nghị quyết và tham gia góp ý với tinh thần xây dựng và dân chủ. Tổ chức tuyên truyền sâu rộng đến cán bộ, hội viên phụ nữ về kết quả, nội dung nghị quyết Đại hội Phụ nữ tỉnh lần thứ VI, Nghị quyết Đại hội toàn quốc phụ nữ lần thứ VIII. Vận động cán bộ tham gia học tập Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng bộ tỉnh do cấp ủy Đảng tổ chức. Nắm vững quan điểm của Đảng, mở ra thời kỳ mới trong sự nghiệp giải phóng phụ nữ nhằm phát huy mọi tiềm năng và vai trò to lớn của phụ nữ, từng bước đưa hoạt động ngày càng đáp ứng với nhu cầu phát triển của xã hội.
Hội Phụ nữ với chức năng, nhiệm vụ của mình đã tổ chức tham gia đóng góp ý kiến về các lĩnh vực kinh tế - xã hội, giáo dục có liên quan đến quyền lợi của phụ nữ - trẻ em, tham mưu cho Ủy ban nhân dân cùng các cấp tổng kết 12 năm thực hiện QĐ 163/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng “Về trách nhiệm của các cấp chính quyền trong việc bảo đảm cho các cấp Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam tham gia quản lý nhà nước”
Thành lập Ban vì sự tiến bộ phụ nữ Bình Phước, trên cơ sở thực hiện NQ 72/TTg của Thủ tướng Chính phủ và chủ trương của Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam. Ban hoạt động bước đầu đã xây dựng được chương trình hoạt động với những vấn đề bức xúc trong công cuộc giải phóng phụ nữ.
Hội Phụ nữ các cấp còn tổ chức học tập và đóng góp ý kiến vào các dự thảo luật hôn nhân gia đình, luật hình sự, luật lao động... và có văn bản đóng góp gởi về cơ quan chức năng và Trung ương hội, đồng thời khảo sát phụ nữ độc thân, tàn tật để có kế hoạch giúp đỡ. Cùng với Liên đoàn lao động tỉnh, hội tiến hành khảo sát đời sống, việc làm của lao động nữ. Ngoài ra, với chức năng đại diện cho quyền lợi và lợi ích chính đáng của phụ nữ, các cấp hội đã phối hợp với các ngành kiểm tra giám sát, đề xuất giải quyết các đơn thư khiếu nại, tố cáo, nhiều vụ việc có liên quan đến phụ nữ - trẻ em, vi phạm luật hôn nhân gia đình, trù dập, ức hiếp bạo hành đối với phụ nữ, chính sách đối với lao động nữ và đồng bào dân tộc, chương trình hành động “Vì sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2000”... Tỉnh hội thường xuyên cử cán bộ xuống cơ sở kiểm tra việc thực hiện 2 phong trào và 5 chương trình công tác trọng tâm của hội. Trong quá trình kiểm tra, hội đã kịp thời phát hiện những yếu kém. Tham mưu đề xuất với các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương điều chỉnh bổ sung khắc phục sai sót trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện ở từng địa phương.
Tuy vậy, trong quá trình thực hiện do một số cán bộ, hội viên còn tư tưởng bảo thủ, ngần ngại và chậm đổi mới. Trình độ năng lực cán bộ hội còn yếu nên việc tham gia kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chế độ, chính sách, luật pháp có liên quan đến quyền lợi của phụ nữ - trẻ em vẫn còn nhiều hạn chế, việc tham gia hòa giải, giải quyết đơn thư, khiếu nại của phụ nữ trẻ em nhiều nơi chưa giải quyết kịp thời. Công tác này mặc dù mở ra nhiều cơ hội để Hội Phụ nữ bảo vệ quyền lợi của giới mình nhưng nó cũng đòi hỏi Hội Phụ nữ phải thực sự lớn mạnh với đội ngũ cán bộ có năng lực thì mới có thể làm tốt công tác được giao.
Về chương trình xây dựng tổ chức hội vững mạnh, quan tâm xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ nữ. Các cấp hội xác định là công tác then chốt. Từ khi tái lập tỉnh, bộ máy tỉnh hội kịp thời củng cố và tiến hành Đại hội nhiệm kỳ VI, tổ chức Hội nghị chuyên đề về công tác xây dựng tổ chức hội. Hội đã chỉ đạo tổ chức cán bộ hội giỏi từ cơ sở lên nhằm phát hiện những tài năng bổ sung nguồn cán bộ hội cho cơ sở, kịp thời đào tạo, bồi dưỡng cả chính trị và nghiệp vụ chuyên môn đáp ứng theo yêu cầu tiêu chuẩn hóa cán bộ. Đồng thời tham mưu cho Đảng phát hiện, giới thiệu những nhân tố mới có phẩm chất, năng lực dự nguồn trong quy hoạch theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 của Đảng (khóa VIII).
Trong nhiệm kỳ qua toàn tỉnh có đầy đủ các Ban Chấp hành phụ nữ ở 80 xã, phường, thị trấn, 6 huyện, thị và 3 chi hội trực thuộc như chi hội công an, quân đội và Cục quân khí K882. Bộ máy chuyên trách từ tỉnh và các huyện, thị tương đối ổn định. Mặc dù có sự chia tách thị xã, tách địa bàn các xã, phường nhưng các địa phương đã nhanh chóng ổn định, tổ chức tốt và đi vào hoạt động bình thường.
Hàng năm Hội đã phối hợp với trường phụ vận Trung ương hội đào tạo cho nhiều lớp cán bộ hội cơ sở, đặc biệt có những lớp dành riêng cho cán bộ phụ nữ dân tộc ít người, hầu hết cán bộ hội cơ sở đều được bồi dưỡng về nghiệp vụ công tác hội, gởi đào tạo trên 900 chị cán bộ chuyên trách tỉnh, huyện qua các chuyên đề ngắn và dài hạn. Ở trong và ngoài tỉnh cử 17 chị chuyên trách tỉnh, huyện theo học các lớp cao cấp chính trị, đại học tại chức, vi tính, văn thư lưu trữ, tôn giáo... nhất là chú trọng cho lớp cán bộ trẻ đi học tạo nguồn để đảm đương công tác hội tốt hơn. Số cán bộ được chuẩn hóa, đại học chuyên ngành tăng 18,75%; cử nhân, cao cấp chính trị tăng 6,25%, trung cấp chính trị tăng 6,25% so với nhiệm kỳ trước. Số cán bộ huyện, thị cơ sở trình độ tăng đáng kể, trình độ văn hóa cấp 3 là 249 chị tăng 5,72% so với năm 1997, trình độ cấp 2 là 526 chị tăng 0,26% so với năm 1997.
Hội Phụ nữ các cấp tập hợp hội viên bằng nhiều hình thức sinh hoạt đa dạng chú trọng vận động chị em vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người, vùng giáo dân và tổ chức hội viên theo địa bàn dân cư. Kết quả hội đã tập hợp được 45.250 hội viên, chiếm tỷ lệ 49,71% số phụ nữ trong toàn tỉnh tham gia sinh hoạt hội tăng 5,43%.
Công tác gây quỹ hội luôn được chú trọng để tạo nguồn kinh phí hoạt động của các cơ sở, tuy mức độ khác nhau nhưng tất cả 6 huyện, thị và các xã, phường, thị trấn đã xây dựng được quỹ hội. Nhiều đơn vị có số lượng gây quỹ tương đối, cao nhất là 30.000.000 đồng, thấp nhất là 100.000 đồng, tổng số tiền quỹ hiện có 198.840.000 đồng đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của hội. Ngoài việc tạo kinh phí hội hoạt động tổ chức các hội thi, họp mặt, nhiều đơn vị đã trích một phần quỹ hội để trợ cấp cho cán bộ hội, hội viên khi gặp khó khăn, hoạn nạn, trích phụ cấp bồi dưỡng hàng tháng cho 350 cán bộ hội tại cơ sở. Qua hoạt động, các tổ chức hội cơ sở thường xuyên được củng cố tăng cường. Hàng năm tỷ lệ đơn vị khá tăng lên, đến nay không còn cơ sở hội yếu kém. Với những thành tích đạt được, trong 5 năm qua tỉnh hội được vinh dự đón nhận Huân chương lao động hạng 3 của Chủ tịch nước trao tặng và Bằng khen cờ thưởng của Trung ương hội; các huyện, thị hội đã được Chính phủ tặng một Huân chương hạng 3, 2 bằng khen của Thủ tướng Chính phủ và nhiều bằng khen của Trung ương Hội và Ủy ban nhân dân tỉnh. Đây là sự kiện đánh dấu một bước trưởng thành của phong trào phụ nữ và  chuẩn bị cho thời kỳ mới  bước vào thế kỉ XXI - thế kỉ của khoa học và công nghệ tiên tiến.
Bên cạnh những thành tích đạt được, hội vẫn còn nhiều mặt khó khăn so với yêu cầu đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, kinh phí đào tạo cho cán bộ cấp cơ sở quá ít hoặc không có nên số cán bộ được qua đào tạo còn thiếu chưa đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động của hội. Việc bố trí, sử dụng cán bộ theo đúng trình độ năng lực, tiêu chuẩn hóa còn nhiều vướng mắc, phần lớn cán bộ vừa học, vừa làm. Nguồn cán bộ hội vẫn còn hụt hẫng. Công tác quy hoạch cán bộ chưa có chuyển biến đáng kể, chất lượng cán bộ trong quy hoạch, điều kiện, khả năng luân chuyển, đề bạt cán bộ theo quy hoạch còn hạn chế. Tỷ lệ thu hút hội viên chưa cao, nhất là các đối tượng nữ thanh niên, phụ nữ tiểu thương, lao động nữ trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh vào tổ chức hội. Công tác vận động phụ nữ dân tộc, tôn giáo, nữ doanh nghiệp... trong giai đoạn hiện nay còn nhiều khó khăn, phức tạp, hội cần có sự đầu tư nhiều hơn về chỉ đạo và cần có kế hoạch định hướng chiến lược cho công tác này.
Nhìn chung, từ năm 1997 đến năm 2001, trong điều kiện của một tỉnh mới tái lập còn đầy khó khăn, song dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, sự hướng dẫn của Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, sự nhiệt tình của các cấp hội nên công tác hội và phong trào nữ trên địa bàn tỉnh đã đạt được những kết quả đáng trân trọng. Cùng với sự phát triển của xã hội, phong trào phụ nữ Bình Phước cũng đã trưởng thành về nhiều mặt. Hội đã phát huy truyền thống anh hùng bất khuất của phụ nữ trong kháng chiến, trong lao động sản xuất, góp phần rất lớn công sức của mình vào sự nghiệp đổi mới đất nước, đưa phong trào của hội phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu, đạt được những thành tựu rất cơ bản mà mục tiêu Nghị quyết Đại hội phụ nữ tỉnh lần thứ VI đã đề ra, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Đảng và Hội Phụ nữ Trung ương giao phó.
II. Phong trào phụ nữ Bình Phước tham gia thực hiện thắng lợi phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (2001 - 2005)
Sau 15 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII; 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ VIII; và 4 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VI, Hội phụ nữ Bình Phước nói riêng và nhân dân Bình Phước nói chung đã vượt lên mọi khó khăn, thách thức, giành được những thắng lợi bước đầu rất quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh... Đời sống của đa số nhân dân từng bước được cải thiện và nâng cao. Những kết quả đạt được, tuy còn có mặt chưa cao, nhưng nếu nhìn lại xuất phát điểm của kinh tế - xã hội từ khi mới tái lập tỉnh mới thấy càng trân trọng những kết quả mà Hội Phụ nữ tỉnh Bình Phước đã đạt được. Tuy Bình Phước là một tỉnh nghèo, điểm xuất phát thấp, nhân dân còn nghèo nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới cuộc sống còn nhiều bức xúc. Những khó khăn này sẽ là thách thức lớn đối với Đảng bộ tỉnh nói chung và phụ nữ Bình Phước nói riêng trong những năm đầu thế kỷ XXI.
Trong bối cảnh đó, thực hiện chủ trương của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bình Phước và chủ trương của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam về việc tiến hành Đại hội phụ nữ các cấp, từ ngày ... đến... tháng 10 năm 2001, Đại hội đại biểu phụ nữ tỉnh Bình Phước lần thứ VII, được tổ chức trọng thể tại thị xã Đồng Xoài. Đại hội xác định mục tiêu của phong trào phụ nữ nhiệm kỳ 2001 - 2006  là: Đoàn kết rộng rãi, động viên các tầng lớp phụ nữ nâng cao về mọi mặt, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ, xây dựng người phụ nữ yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có sức khỏe, có trí tuệ, năng động sáng tạo, có bản lĩnh, có lòng nhân hậu, có lối sống lành mạnh, quan tâm đến lợi ích của xã hội và của cộng đồng. Đại hội đã bầu... đồng chí ủy viên Ban Chấp hành Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh. Đồng chí Nguyễn Thị Đào, Tỉnh ủy viên tiếp tục được tín nhiệm cao bầu lại Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh, đồng chí... làm Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh.
Đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội phụ nữ Bình Phước lần thứ VI, Đại hội nhấn mạnh: Trong 5 năm qua Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Bình Phước cùng với các tầng lớp phụ nữ trong tỉnh đã có nhiều nỗ lực phấn đấu vươn lên trên mọi lĩnh vực góp phần xây dựng và phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội tỉnh nhà. Thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam và Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ, Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Bình Phước cũng đã khẳng định được là một tổ chức đoàn thể năng động, đổi mới, luôn lắng nghe và đáp ứng nguyện vọng, tâm tư tình cảm của chị em phụ nữ. Trong chỉ đạo phong trào, Hội Phụ nữ các cấp đã tập trung củng cố tổ chức hội từ cơ sở đến huyện, tỉnh được vững mạnh, đảm bảo đủ sức để đảm đương công tác hội ngày một tốt hơn. Hội cũng tổ chức chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho phụ nữ và trẻ em. Luôn gắn công tác chăm lo quyền lợi đời sống phụ nữ với công tác tuyên truyền giáo dục nâng cao trình độ, kiến thức cho phụ nữ. Hội luôn tranh thủ ý kiến, chủ động tham mưu đề xuất với Đảng về các chủ trương phục vụ cho công tác hội và luôn được các cấp ủy ghi nhận, tạo điều kiện cho Hội Phụ nữ hoạt động. Các chương trình hoạt động của hội luôn thiết thực phục vụ cho đời sống của phụ nữ và trẻ em, có liên quan đến nhiều ngành, công tác phối hợp với các ngành cũng được Hội Phụ nữ thực hiện tốt và nhận được sự hỗ trợ phối hợp có hiệu quả. Trong hoạt động, Hội tập trung hướng về cơ sở lấy những vấn đề thiết thân của phụ nữ làm nội dung hoạt động của hội nên đã thu hút nhiều hội viên ở mọi tầng lớp phụ nữ. Đội ngũ cán bộ hội hết sức năng nổ, nhiệt tình, xây dựng mạng lưới hội viên phụ nữ nòng cốt ở chi, tiểu tổ hội nên đã đưa được các mặt công tác xuống tận quần chúng hội viên. Qua 5 chương trình trọng tâm và 2 phong trào của hội đã tác động đến các tầng lớp phụ nữ và hội viên có những chuyển biến nhận thức mới về vai trò của phụ nữ trong giai đoạn đổi mới của đất nước. Sự hiểu biết về giới cũng đã làm thay đổi cách nghĩ và chuyển biến tích cực về hành vi nhằm góp phần vào sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Kết quả lớn nhất trong phong trào hội là sự nhìn nhận vai trò phụ nữ trong xã hội, thực tế cho thấy tất cả các hoạt động của các cấp ủy chính quyền địa phương trong công tác vận động quần chúng đều có Hội Liên hiệp phụ nữ tham gia, một lực lượng tin cậy trong hệ thống chính trị của Đảng, Hội Phụ nữ luôn phấn đấu không mệt mõi vì sự bình đẳng và phát triển của phụ nữ.
Đại hội đã chỉ ra những mặt hạn chế của nhiệm kỳ qua như: Bên cạnh những mặt làm được, những mặt hạn chế trong phong trào phụ nữ cũng không ít, trước tình hình đổi mới của đất nước, lực lượng nữ chưa đáp ứng được những yêu cầu về trình độ, năng lực, chuyên môn nghiệp vụ. Ảnh hưởng phong kiến “trọng nam khinh nữ” vẫn còn tồn tại tuy có mức độ khác nhau nhưng vẫn là cản trở trong nếp nghĩ và hành vi của phụ nữ để vươn lên bình đẳng. Một bộ phận không ít phụ nữ nông thôn, phụ nữ vùng đồng bào dân tộc còn tự ty, an phận, quanh quẩn tháo gỡ cái nghèo, không có điều kiện tham gia sinh hoạt học tập. Đội ngũ cán bộ nữ trong tỉnh phát triển chậm, nhất là nữ tham gia cấp ủy giảm so với nhiệm kỳ trước. Trong xã hội, một bộ phận nữ thoái hóa, biến chất, chạy theo lối sống thực dụng, nhận thức xã hội kém, tiếp tay cho các loại tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật gây mất trật tự xã hội. Việc vận động phụ nữ đến với hoạt động của hội ở vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn. Điều kiện giao thông cách trở, dân cư rãi rác, cán bộ hội cơ sở trình độ năng lực có hạn, nhất là đối với công tác tuyên truyền chính sách pháp luật hoặc kiểm tra việc thực hiện chính sách pháp luật đối với phụ nữ và trẻ em. Trong việc phát triển hội viên chủ yếu là phụ nữ nông thôn, phụ nữ tiểu thương. Đối với nữ trí thức, nữ doanh nghiệp, nữ thanh niên, mặc dù có chỉ đạo đổi mới nội dung, phương thức hoạt động để thu hút hội viên nhưng chưa cao, có nơi chưa quan tâm. Trong các chương trình, thực hiện chương trình nghiên cứu giám sát còn nhiều hạn chế từ cấp tỉnh đến cơ sở. Do trình độ năng lực cán bộ cũng như phương pháp, cán bộ hội chưa được học tập bồi dưỡng, chủ yếu vẫn chỉ là nắm số liệu hỗ trợ cho công trình nghiên cứu cho Trung ương.
Từ những kết quả đạt được, Đại hội đề ra phương hướng, nhiệm vụ thời kỳ 2001 - 2006, trong đó nhấn mạnh:
1. Đoàn kết mọi tầng lớp phụ nữ, phát huy truyền thống tốt đẹp, rèn luyện phẩm chất đạo đức của người phụ nữ Việt Nam hoàn thành tốt nhiệm vụ trên mọi lĩnh vực, góp phần ổn định kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội - an ninh quốc phòng ở địa phương.
2. Tạo điều kiện để phụ nữ tích cực học tập, nâng cao trình độ về mọi mặt, hướng dẫn giúp đỡ phụ nữ nâng cao chất lượng cuộc sống, có kiến thức chăm sóc sức khỏe, nuôi dạy con theo khoa học, xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc.
3. Xây dựng và phát triển tổ chức hội vững mạnh, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ hội đáp ứng với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước.
4. Tham gia xây dựng và kiểm tra giám sát việc thực hiện pháp luật, chính sách bình đẳng giới, các chính sách có liên quan đến quyền lợi của phụ nữ - trẻ em, phát triển đội ngũ cán bộ nữ trên các lĩnh vực, giới thiệu phụ nữ tham gia vào các cơ quan lãnh đạo của Đảng và nhà nước.
Từ thực tiễn lãnh đạo Hội phụ nữ tỉnh, 5 năm 1997 - 2001, Đại hội rút ra một số bài học kinh nghiệm:
- Hoạt động hội phải luôn gắn liền với thực hiện nhiệm vụ chính trị địa phương, đáp ứng nguyện vọng của mọi tầng lớp phụ nữ. Hội Phụ nữ chủ động tham mưu tích cực cho các cấp ủy, Ủy ban nhân dân về các vấn đề liên quan đến quyền lợi phụ nữ, trẻ em và lợi ích cộng đồng. Tạo sự tin cậy của Đảng và nhà nước đối với Hội Phụ nữ các cấp.
- Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đội ngũ cán bộ hội cơ sở, vấn đề bộ máy hoạt động và nâng cao trình độ cho cán bộ hội là hết sức quan trọng, quyết định việc thực hiện các chương trình trọng tâm của hội.
- Quan tâm đào tạo nguồn trong cán bộ phụ nữ dân tộc, tôn giáo nhằm phát huy hết năng lực của các tầng lớp phụ nữ vùng sâu, vùng xa.
- Sự đoàn kết nhất trí của toàn thể cán bộ hội viên, các tầng lớp phụ nữ thực hiện phong trào của hội. Các yếu tố trí tuệ, năng động, sáng tạo đổi mới các nội dung, phương thức hoạt động là điều kiện tốt để phát triển hội ngày một vững chắc.
- Việc xây dựng các nguồn quỹ hội là một biện pháp tốt để hỗ trợ kinh phí hoạt động của Hội Phụ nữ các cấp một cách hữu hiệu. Thực tế cho thấy một số lớn các cơ sở hội làm tốt công tác gây quỹ đã có phong trào phụ nữ hoạt động tốt hơn.
Để lãnh đạo hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ, Đại hội đã đề ra các mục tiêu cụ thể và các giải pháp mũi nhọn: Nâng cao nhận thức và trình độ năng lực mọi mặt của phụ nữ. Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế hộ gia đình, vươn lên làm giàu chính đáng. Xây dựng gia đình no ấm - bình đẳng - tiến bộ - hạnh phúc. Xây dựng và phát triển tổ chức hội vững mạnh. Tham gia xây dựng và kiểm tra giám sát việc thực hiện pháp luật, chính sách về bình đẳng nam nữ và hoạt động đối ngoại.
Cùng với việc tập trung kiểm điểm tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội Phụ nữ tỉnh lần thứ VI và đề ra phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 1991 - 1996, Đại hội VII Phụ nữ tỉnh Bình Phước cần kiểm điểm sự lãnh đạo của Ban Chấp hành phụ nữ tỉnh lần thứ VI trên tất cả các mặt. Các đại biểu tham dự đại hội cũng đóng góp nhiều ý kiến vào văn bản dự thảo văn kiện Đại hội Liên hiệp phụ nữ toàn quốc lần thứ IX và bầu các đồng chí đi dự Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ IX. Đây là những đồng chí đại diện cho toàn bộ phụ nữ Bình Phước, có trách nhiệm đem hết trí tuệ và phản ánh nguyện vọng của phụ nữ Bình Phước, góp phần vào sự thành công của Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ IX của phụ nữ Việt Nam.
Đại hội đại biểu phụ nữ tỉnh Bình Phước được tiến hành vào thời điểm có nhiều ý nghĩa quan trọng, thời điểm kết thúc thế kỷ XX, bước sang thế kỷ XXI. Năm toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang tích cực triển khai đưa Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp vào cuộc sống; triển khai thực hiện tốt phong trào thi đua yêu nước và 6 chương trình công tác trọng tâm do Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ IX đề ra, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kinh tế, xã hội của địa phương, nâng cao đời sống nhân dân, ổn định chính trị, thực hiện sự bình đẳng, tiến bộ của phụ nữ.
Về công tác triển khai nghị quyết, Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh và các cấp hội đã tiến hành chỉ đạo kịp thời, phù hợp với tình hình thực tiễn, được địa phương và quần chúng đồng tình ủng hộ. Đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên được lựa chọn chu đáo nên đã phát huy được tác dụng khi triển khai nghị quyết cho hội viên phụ nữ ở cơ sở. Đến cuối năm 2002, Hội phụ nữ  từ tỉnh đến cơ sở đã triển khai đồng loạt các nghị quyết của hội xuống hội viên và phụ nữ. Trong đó, 100% là cán bộ Ban Chấp hành cấp huyện, thị, các ngành liên quan, cán bộ Ban Chấp hành hội cơ sở, cán bộ chi, tổ phụ nữ tham gia học nghị quyết đạt kế hoạch đề ra.
Ngày 19/5/2002, cùng với cả nước, phụ nữ cả tỉnh đi bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XI, bầu bổ sung Hội đồng nhân dân các cấp và ngày 25/4/2004 bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2004 - 2009, đảm bảo dân chủ, đúng luật, an toàn và tiết kiệm với tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu đạt trên 99%. Kết quả cử tri bầu 6 người trúng cử vào đại biểu Quốc hội khóa XI, trong đó đại biểu nữ có đồng chí Trịnh Thị Nga, Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh chiếm tỷ lệ 20%, Hội đồng nhân dân tỉnh có 11 chị chiếm 21,15%, Hội đồng nhân dân huyện, thị có 43 chị chiếm 22,87%, Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn có 227 chị chiếm 12,14%.
Nhờ triển khai tốt Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, Nghị quyết Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ IX và Nghị quyết Đại hội phụ nữ tỉnh lần thứ VII trong cán bộ, hội viên, phong trào phụ nữ và công tác hội từ tỉnh đến cơ sở đã có chuyển biến mạnh mẽ trên các mặt, vai trò của phụ nữ trong tỉnh tham gia tích cực, có hiệu quả, đóng góp quan trọng vào các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng của tỉnh.
Trên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, với đặc thù là một tỉnh nông nghiệp miền núi cây trồng chính là cây công nghiệp, dân tộc biên giới, có 41 dân tộc anh em cùng sinh sống, tỷ lệ đồng bào dân tộc chiếm trên 20%, có 240 km đường biên giới giáp với Vương quốc Campuchia; lao động nữ trong nông nghiệp chiếm hơn 80%, đại bộ phận phụ nữ làm nghề nông với tính cần cù, chịu khó, chị em đã vượt qua khó khăn, tích cực lao động, tích luỹ kinh nghiệm sản xuất đồng thời không ngừng học tập, nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật với các cây, con giống có giá trị kinh tế cao, đầu tư thâm canh sản xuất, chuyển đổi cơ cấu mùa vụ nhằm phát triển nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Tham gia đóng góp quan trọng vào hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm, chế biến nông sản thực phẩm... Một bộ phận phụ nữ đã mạnh dạn phát triển mô hình kinh tế trang trại, đa dạng ngành nghề, tạo ra sản phẩm có giá trị kinh tế cao, góp phần tích cực trong việc bảo đảm an ninh lương thực thực phẩm, phục vụ tốt nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu. Nhiều chị em là những nông dân sản xuất giỏi, chủ trang trại như chị Nguyễn Thị Ly (Đồng Nơ - Bình Long), chị Lê Thị Hồng Châu (Lộc Quang - Lộc Ninh)... Từ đó khẳng định được vị thế của phụ nữ trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp.
Trên lĩnh vực sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng trưởng với tốc độ khá cao, chủ yếu là chế biến mủ cao su và hạt điều. Với thế mạnh là đất đai màu mỡ, diện tích trồng cao su nhiều nhất nước, có 5 công ty cao su hoạt động trong địa bàn tỉnh đã thu hút được lực lượng công nhân rất lớn, tỷ lệ nữ công nhân chiếm 75% đã vượt lên những khó khăn, thách thức của quá trình chuyển đổi nền kinh tế, hưởng ứng mạnh mẽ phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”, ngày càng có những đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế. Từ đội ngũ nữ công nhân lao động trực tiếp đến nữ quản lý trong các xí nghiệp, nhà máy đã tích cực lao động, sản xuất kinh doanh, quản lý xí nghiệp, đồng thời tham gia học tập, nâng cao trình độ, tay nghề dưới nhiều hình thức để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Qua đó, nhiều chị đạt danh hiệu kiện tướng trong các hội thi thợ giỏi như chị Phạm Thị Thủy - Nông trường Tân Lợi - Công ty cao su Đồng Phú và đạt danh hiệu “Bàn tay vàng” do các công ty cao su tổ chức như chị Phạm Thị Cúc - Nông trường Minh Thành; chị Nguyễn Thị Nghệ - Nông trường Nha Bích thuộc Công ty cao su Sông Bé. Trong sản xuất kinh doanh, các chị đã mạnh dạn thay đổi mẫu mã, áp dụng kỹ thuật công nghệ mới, phát triển thêm mặt hàng đáp ứng yêu cầu khách hàng, nắm bắt được cơ hội kinh doanh, góp phần đáng kể vào việc giải quyết việc làm cho người lao động, tạo ra những sản phẩm chất lượng phục vụ cho xã hội, đáp ứng yêu cầu cơ bản thiết yếu của nền kinh tế và vươn lên làm giàu chính đáng như chị Phạm Thị Mỹ Lệ - Giám đốc Công ty Mỹ Lệ TNHH.
Trong hoạt động dịch vụ, thương mại, bưu chính viễn thông, tài chính ngân hàng: lực lượng lao động nữ đã từng bước bám sát thị trường, có nhiều đóng góp trong lĩnh vực lưu thông, phân phối sản phẩm, hàng hóa đến tay người tiêu dùng từ vùng sâu, vùng nông thôn đến thị trấn, thị tứ, tạo thêm việc làm cho người lao động. Sự phát triển của hoạt động thương mại, dịch vụ trong tỉnh vừa góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế vừa giúp lao động nữ trong ngành không ngừng học tập, rèn luyện, lao động sáng tạo để bắt kịp với yêu cầu phát triển nền kinh tế tri thức và xu thế hội nhập, phấn đấu cải tiến cung cấp dịch vụ với chất lượng ngày càng cao. Trong hoạt động bưu chính viễn thông, tài chính ngân hàng, lao động nữ đã góp phần nâng cao hiệu quả các hoạt động dịch vụ, thúc đẩy việc huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn phục vụ cho công cuộc xây dựng tỉnh nhà và phục vụ đời sống nhân dân, tạo nguồn thu đáng kể vào ngân sách của tỉnh.
Trong lĩnh vực văn hóa - xã hội: phụ nữ trong tỉnh đã có nhiều đóng góp tích cực, xuất phát từ tình hình thực tế là tỉnh có trình độ dân trí còn thấp so với các tỉnh trong khu vực, nhất là trong phụ nữ nông thôn, phụ nữ lao động nghèo. Vì vậy, việc bồi dưỡng nâng cao trình độ về mọi mặt của phụ nữ là rất cần thiết và luôn được các cấp, các ngành quan tâm. Lao động nữ trong ngành giáo dục đào tạo đã có những đóng góp quan trọng trong chủ trương đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, nâng cao hiệu quả giáo dục đào tạo ở các cấp học, góp phần hoàn thành mục tiêu xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, vận động trẻ em đến trường, từng bước nâng cao mặt bằng dân trí của tỉnh. Nhiều chị có nhiều thành tích cao trong giảng dạy đã được công nhận là chiến sĩ thi đua toàn ngành, giáo viên dạy giỏi cấp quốc gia...
Lao động nữ trong ngành y tế có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển, tiến bộ của ngành. Đội ngũ nữ bác sĩ, y tá, hộ lý đã tận tụy trong công việc, ứng dụng khoa học vào lĩnh vực nghiên cứu và nâng cao chất lượng công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho nhân dân. Các tuyên truyền viên làm tốt công tác tuyên truyền ở cơ sở về những nội dung chăm sóc sức khỏe phụ nữ và trẻ em đồng thời xây dựng các mô hình câu lạc bộ như: câu lạc bộ sức khỏe sinh sản, gia đình hạnh phúc, không sinh con thứ ba, phòng chống trẻ em suy dinh dưỡng cũng như vận động phụ nữ đi khám thai, tiêm phòng uốn ván, ... thực hiện kế hoạch hóa gia đình giúp phụ nữ trong tỉnh thay đổi hành vi trong chăm sóc sức khỏe sinh sản, góp phần hạ tỷ suất sinh của tỉnh từ 23,52%o năm 2003 xuống còn 22,03%o năm 2005.
Hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao có chuyển biến tích cực, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương. Các hội thi thể thao, bóng chuyền, cầu lông, dưỡng sinh, văn nghệ lưu động... đã thu hút lực lượng nữ tham gia, góp phần nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của các tầng lớp phụ nữ trong tỉnh, nhất là lực lượng nữ thanh niên, hội viên cao tuổi.
Trong xóa đói giảm nghèo: Bằng nhiều hình thức như cho vay không lãi, lãi suất thấp, hỗ trợ cây giống, vật nuôi, kinh nghiệm sản xuất kinh doanh, ngày công lao động đã khơi dậy được truyền thống tốt đẹp của dân tộc “lá lành đùm lá rách” tạo nên một phong trào rộng lớn trong các tầng lớp phụ nữ. Với phương châm phát huy nội lực và đảm bảo tính bền vững, hình thức giúp nhau thoát khỏi đói nghèo của phụ nữ rất đa dạng, hiệu quả và mang nét riêng của phụ nữ như: vốn giúp nhau, tổ, nhóm TDTK, tổ xoay vòng vốn. Việc sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn: vốn 120 giải quyết việc làm, vốn tín chấp, vốn ngân hàng nhà nước, vốn xóa đói giảm nghèo của tỉnh, vốn của các tổ chức phi chính phủ đã giúp nhiều chị em thoát nghèo, vươn lên làm giàu với nhiều điển hình như chị Điểu Thị Mai ở xã Tân Thành - thị xã Đồng Xoài, chị Võ Thị Thuận ở xã Minh Thắng - huyện Chơn Thành... Điều đáng ghi nhận là việc hỗ trợ vốn của phụ nữ không chỉ cải thiện được mức sống mà còn nâng cao ý thức công dân, nâng cao tình làng nghĩa xóm ở khu dân cư.
Trong xây dựng gia đình “no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc” phụ nữ đã phát huy vai trò người thầy đầu tiên cùng các thành viên trong gia đình nuôi dạy con có sức khỏe, phát triển trí tuệ, xây dựng gia đình theo 4 chuẩn mực “ No ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc” gắn với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” và xây dựng gia đình văn hóa. Qua đó góp phần tích cực đẩy mạnh phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, nhân đạo từ thiện bằng những việc làm thiết thực, cụ thể như thăm hỏi các gia đình chính sách, chăm sóc mẹ Việt Nam anh hùng, mẹ liệt sĩ cô đơn, quyên góp tặng sổ tiết kiệm, ủng hộ xây dựng nhà tình nghĩa, hỗ trợ gia đình chính sách phát triển kinh tế gia đình, giúp phụ nữ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, ủng hộ đồng bào bị thiên tai lũ lụt, duy trì hủ gạo tình thương, đặc biệt là phong trào làm nhà tình thương, tặng sổ tiết kiệm, xóa nhà tranh tre cho phụ nữ nghèo.
Trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng: phụ nữ trong lực lượng vũ trang tuy chiếm tỷ lệ không lớn nhưng đã tích cực hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước của phụ nữ trong tỉnh, có những đóng góp tích cực thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ chính quyền, bảo vệ cuộc sống nhân dân, góp phần ổn định chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, chủ quyền an ninh quốc gia, an ninh biên giới. Các tầng lớp phụ nữ còn tham gia tích cực trong xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, chuẩn bị tốt các đợt diễn tập phòng thủ, ứng phó với các tình huống, làm tốt công tác hậu phương quân đội, vận động phụ nữ vùng biên giới, đấu tranh ngăn chặn bọn buôn lậu, phá rừng, bảo vệ an ninh biên giới, đấu tranh chống âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch đồng thời tăng cường mối quan hệ giữa phụ nữ Bình Phước và phụ nữ các tỉnh lân cận thuộc Vương quốc Campuchia.
Cùng với các lĩnh vực trên, vị trí, vai trò của cán bộ nữ trong các cơ quan Đảng, chính quyền, các cơ quan dân cử ngày càng được phát huy. Đội ngũ cán bộ nữ chủ chốt đã từng bước khẳng định được bản lĩnh nhạy bén, năng động trong lĩnh vực được phân công. Thông qua tổ chức chính trị, các tầng lớp phụ nữ trong tỉnh đã tham gia đóng góp ý kiến vào văn kiện Đại hội Đảng các cấp, các văn bản pháp luật, tích cực tham gia bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2004 - 2009, thực hiện Quy chế dân chủ ở địa phương, đơn vị. Tham mưu cho các cấp ủy Đảng tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 37 của Ban Bí thư nhằm đánh giá kết quả và định hướng cho các cấp ủy, chính quyền các cấp trong quá trình phát huy vai trò quan trọng của cán bộ nữ trong công cuộc xây dựng và phát triển tỉnh nhà, so với nhiệm kỳ trước cán bộ nữ lãnh đạo cấp tỉnh tăng 6 chị (đạt tỷ lệ 33,3%) hiện tại có 26 chị, cấp huyện tăng 20 chị (đạt tỷ lệ 5,5%), hiện tại có 152 chị, cấp xã tăng 30 chị (đạt tỷ lệ 10%), hiện tại có 330 chị; nữ tham gia cấp ủy cấp tỉnh tăng 5,64%, cấp huyện, thị tăng 2,27%, cấp cơ sở tăng 2,66%, nữ Hội đồng nhân dân tỉnh tăng 5,96%, huyện, thị tăng 0,7%, cơ sở tăng 5,56%.
Các tầng lớp phụ nữ Bình Phước cũng đã tích cực tham gia đấu tranh, góp tiếng nói chung với phụ nữ cả nước, phụ nữ yêu chuộng hòa bình trên thế giới, chống cuộc chiến tranh xâm lược Irắc, góp chữ ký gởi toà án quốc tế đấu tranh ủng hộ nạn nhân bị nhiễm chất độc da cam đioxin. Phụ nữ tham gia giao lưu thương mại và quan hệ tốt với tỉnh Krachê, Mundunkiri (Cmphuchia)... Đồng thời cũng là lực lượng có những đóng góp không nhỏ vào hoạt động kinh tế đối ngoại như lĩnh vực xuất nhập khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, du lịch...
Những kết quả nêu trên thể hiện sự nỗ lực của bản thân phụ nữ và sự quan tâm trong việc hoạch định chính sách nâng cao nhận thức giới trong các cấp, các ngành và toàn xã hội, củng cố niềm tin của hội viên phụ nữ vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Cùng với các phong trào thi đua yêu nước, hoạt động của Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh thời kỳ 2001 - 2005 có nhiều khởi sắc. Từ sau Đại hội phụ nữ tỉnh lần thứ VII và Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ IX, các cấp hội trong tỉnh đã triển khai thực hiện và cụ thể hóa nghị quyết đại hội, tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, thực hiện tốt phong trào thi đua yêu nước “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc” và 6 chương trình công tác trọng tâm của hội đạt nhiều kết quả thiết thực, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh và mục tiêu bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ Bình Phước.
Hội tổ chức các hoạt động hỗ trợ phụ nữ phát huy tiềm năng, phấn đấu vì mục tiêu bình đẳng và phát triển phụ nữ. Công tác tuyên truyền giáo dục tư tưởng, giáo dục truyền thống được chú trọng chỉ đạo thực hiện có hiệu quả, các cấp hội đã bám sát đường lối, chủ trương của Đảng, các mục tiêu kinh tế - xã hội của tỉnh và chức năng nhiệm vụ của hội để xây dựng chương trình hoạt động, đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền phù hợp với tâm tư nguyện vọng của từng đối tượng. Nhân các sự kiện lớn của đất nước, Hội đã tổ chức nhiều hoạt động có ý nghĩa chính trị xã hội, nhân văn sâu sắc, góp phần củng cố phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc, giáo dục truyền thống cho phụ nữ, tham gia giao lưu phụ nữ cả nước với Tây Nguyên, với Điện Biên, về nguồn, tổ chức mừng thọ mẹ Việt Nam anh hùng, tổ chức Hội nghị phụ nữ khu vực miền Đông Nam Bộ, tham gia Hội thi cán bộ Hội dân tộc. Điểm mới trong công tác tuyên truyền giáo dục của hội trong nhiệm kỳ qua là hướng các hoạt động về cơ sở, thu hút được nhiều đối tượng tham gia, nhiều mô hình mới như sinh hoạt chi hội nữ kháng chiến, tổ chức kết nghĩa giữa xã khá với xã khó, giữa chi hội phụ nữ người kinh và phụ nữ dân tộc, xây dựng nhiều mô hình câu lạc bộ, tổ chức các hội thi có sự tham gia của nam giới, phù hợp với các ngành chức năng tuyên truyền học tập luật pháp cho hội viên, tác động nhiều đến tư tưởng của hội viên phụ nữ. Hội đã thực sự là cầu nối giữa Đảng với nhân dân từ đó mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân được củng cố và tăng cường gắn bó, tạo sự thống nhất cao và trở thành động lực mạnh mẽ trong quá trình thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng.
Hội còn cung cấp tài liệu các loại có nội dung thiết thực đáp ứng được nhu cầu cung cấp thông tin cho nhiều đối tượng phụ nữ về các vấn đề phụ nữ quan tâm như giáo dục truyền thống, đạo đức phẩm chất, chuẩn mực người phụ nữ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giáo dục gia đình, chăm sóc sức khỏe, phòng chống tệ nạn xã hội...; vận động phụ nữ viết bài dự thi tìm hiểu về lịch sử Đảng, về thân thế và sự nghiệp Bác Hồ, chính sách vay vốn của ngân hàng, phòng chống AIDS, pháp lệnh mại dâm, DS/SKSS. Đặc biệt, từ đầu năm 2003, hàng tháng hội đã cung cấp 110 tờ tin nội bộ cho cơ sở làm tài liệu sinh hoạt, xây dựng mạng lưới báo cáo viên, tuyên truyền viên cơ sở, nhờ đó nhận thức của chị em từng bước được nâng lên.
Chương trình hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, xói đói giảm nghèo trong nhiệm kỳ qua đã tạo ra bước phát triển cả về quy mô và hiệu quả hoạt động. Các cấp hội đã khai thác thêm nhiều nguồn vốn để hỗ trợ phụ nữ nghèo với mục đích đa dạng, không ngừng năng động, sáng tạo, tìm nhiều loại hình thích hợp với hoàn cảnh phụ nữ và khả năng của hội để thực hiện, nhiều mô hình mới được xây dựng như 5 đến 10 chị dân tộc giúp cho 1 chị đến khi thoát nghèo ở Bù Đăng, giúp nhau xây dựng công trình “3 sạch” ở Bù Đốp, giúp nhau nuôi bò xoay vòng ở Phước Long, Đồng Phú, Chơn Thành. Hầu hết, các nguồn vốn đã tập trung giúp phụ nữ nghèo. Không chỉ cán bộ, hội viên phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo mà khối nữ công nhân viên chức cũng huy động nguồn vốn xoay vòng giải quyết cho nữ công nhân viên chức vay để giải quyết khó khăn trong cuộc sống. Cùng với hỗ trợ nguồn vốn, các cấp hội đã đẩy mạnh công tác chuyển giao khoa học kỹ thuật nhờ đó đã giúp chị em phát triển kinh tế từ nghèo đến ổn định, từ ổn định lên khá, giàu.
Hội còn mở lớp tập huấn kỹ năng quản lý và điều hành doanh nghiệp, giúp chị em khởi sự phát triển doanh nghiệp nhỏ và cực nhỏ, thành lập và phát triển các tổ đan mây tre, tổ gia công hạt điều để có thêm thu nhập. Riêng trung tâm dịch vụ việc làm của Hội đã phối hợp với các ngành liên quan mở các lớp: Trung cấp kế toán, sơ cấp chăn nuôi - thú y - bảo vệ thực vật, vi tính với 238 học viên, mở các lớp đào tạo nghề cho lao động nông thôn như cắt uốn tóc, nữ công gia chánh, điện dân dụng cho 460 học viên, phối hợp tổ chức thi giấy phép lái xe hạng A1 cho 1.424 người dân có nhu cầu, giáo dục định hướng xuất khẩu lao động cho 94 học viên và tư vấn giới thiệu việc làm trong và ngoài tỉnh. Trong 5 năm qua, các cấp hội đã hỗ trợ số vốn hơn 100 tỷ đồng cho gần 70.000 lượt phụ nữ nghèo vay để phát triển kinh tế gia đình. Những hoạt động trên đã góp phần làm giảm tỷ lệ hộ nghèo trong tỉnh từ 10,15% đầu năm 2001 xuống còn 4,98% năm 2005 (xét theo tiêu chí mới là 11,2%).
Quán triệt tinh thần chỉ đạo và định hướng của Nghị quyết Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ IX về xây dựng gia đình Việt Nam, trong nhiệm kỳ qua, các cấp Hội phụ nữ trong tỉnh đã gắn việc chỉ đạo xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc với thực hiện phong trào thi đua yêu nước và cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”. Tổ chức cho cán bộ, Hội viên tuyên truyền, học tập, đăng ký và bình xét hàng năm. Thành công đáng kể trong nhiệm kỳ qua là các cấp Hội phụ nữ đã xây dựng được nhiều mô hình thiết thực, hiệu quả như câu lạc bộ “Gia đình hạnh phúc”, câu lạc bộ “Sức khỏe sinh sản”, câu lạc bộ “Không sinh con thứ ba”, câu lạc bộ “Không có trẻ em suy dinh dưỡng”, câu lạc bộ “Gia đình không có người thân phạm tội và tệ nạn xã hội”, phối hợp với các ban ngành liên quan để tổ chức các Hội thi, Hội thảo, tuyên dương các gia đình hạnh phúc..., nhằm tuyên truyền giúp chị em nâng cao nhận thức về vai trò và trách nhiệm của người phụ nữ từ đó làm tốt vai trò người vợ, người mẹ trong gia đình góp phần cùng với xã hội phòng chống ngăn chặn tệ nạn xã hội từ trong gia đình, chăm sóc sức khỏe phụ nữ trẻ em.
Cùng với các hoạt động tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho phụ nữ, giữ gìn và phát huy những bản sắc văn hóa tốt đẹp của gia đình Việt Nam, các cấp Hội còn tăng cường các hoạt động chăm lo hỗ trợ vật chất, tinh thần, đẩy mạnh các hoạt động nhân đạo từ thiện bằng nhiều chương trình có ý nghĩa thiết thực, góp phần mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho gia đình nghèo. Trong nhiệm kỳ qua, các cấp Hội đã vận động xây dựng 07 căn nhà tình nghĩa, 95 căn nhà tình thương với tổng trị giá 740.466.000 đồng, vận động được 198 sổ tiết kiệm hỗ trợ gia đình chính sách và hội viên nghèo với số tiền 110.200.000 đồng, xóa 339 nhà tranh tre dột nát trị giá 548.778.000 đồng, xây dựng và duy trì 04 bếp ăn từ thiện cho bệnh nhân nghèo, chăm sóc mẹ Việt Nam anh hùng, mẹ liệt sĩ neo đơn, chăm lo cho gia đình chính sách, đóng góp xây dựng tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng với tổng trị giá 49.867.000 đồng.
Nhìn chung, công tác xã hội và từ thiện của các cấp hội trong nhiệm kỳ qua tiếp tục được phát huy, nhiều hoạt động đã trở thành phong trào và duy trì phát triển ngày càng sâu rộng, tạo được nét đặc sắc riêng cho hoạt động hội, góp sức cùng các ngành thực hiện chính sách xã hội cho nhân dân.
Trong công tác cán bộ nữ, Hội đã tham mưu cho Tỉnh ủy tổ chức tổng kết Chỉ thị 37 về công tác cán bộ nữ và ra nghị quyết tiếp tục thực hiện về công tác cán bộ nữ trong thời kỳ mới. Trong xây dựng luật pháp, chính sách, hội đã thể hiện được vai trò đại diện của tổ chức hội bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trên các mặt, phát huy trách nhiệm trong lĩnh vực đóng góp ý kiến cho nhiều văn bản luật, chính sách liên quan đến phụ nữ, kiểm tra, giám sát các vấn đề có liên quan đến quyền và lợi ích chính đáng của phụ nữ - trẻ em, quan tâm đến yếu tố giới thực hiện quyền bình đẳng nam nữ, tham gia góp ý luật Bình đẳng giới, tham gia các tổ hòa giải ở địa phương, phối hợp giải quyết các vấn đề xã hội liên quan đến phụ nữ - trẻ em, tham gia xử lý các vi phạm luật pháp nhất là vấn đề ngược đãi phụ nữ, trẻ em. Chủ động phối hợp với Ủy ban nhân dân các cấp triển khai thực hiện Nghị định 19/2003/NĐ - CP tạo điều kiện cho các cấp Hội Phụ nữ tham gia quản lý Nhà nước.
Nhiệm kỳ qua, các cấp Hội Phụ nữ trong tỉnh đã tích cực tham mưu, củng cố kiện toàn bộ máy hoạt động của hệ thống Ban vì sự tiến bộ các cấp, trên cơ sở đó Ban tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng, triển khai kế hoạch hành động giai đoạn 2001 - 2005 và tổ chức thực hiện. Cùng với hoạt động của Ban vì sự tiến bộ phụ nữ, Hội đã góp phần tuyên truyền nâng cao nhận thức và bình đẳng giới cho lãnh đạo các cấp Hội phụ nữ trong tỉnh. Phối hợp với Ban vì sự tiến bộ phụ nữ định kỳ giám sát việc thực hiện chính sách đối với phụ nữ. Thành lập trung tâm hỗ trợ kết hôn nhằm tư vấn, trang bị và giúp đỡ cho chị em những kiến thức cần thiết về pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân gia đình và các lĩnh vực khác.
Hội xác định xây dựng và phát triển tổ chức hội vững mạnh là nhiệm vụ trọng tâm, là vấn đề sống còn của tổ chức hội. Vì vậy, hội quan tâm đầu tư chỉ đạo công tác củng cố kiện toàn, phát triển tổ chức hội theo phương châm “Hướng về cơ sở, ở đâu có phụ nữ ở đó có tổ chức hội”, thông qua nhiều biện pháp cụ thể, thiết thực, thường xuyên chỉ đạo các cơ sở hội xây dựng lực lượng hội viên nòng cốt từ chi, tổ, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác hội đồng thời tạo điều kiện chăm lo đời sống cho đội ngũ cán bộ hội, củng cố chi, tổ hội. Có thể nói công tác xây dựng, củng cố tổ chức hội thực sự chuyển biến về chất cùng với việc chuyển hướng hoạt động của hội, tập trung tận địa bàn dân cư gắn với đổi mới nội dung phương thức hoạt động. So với đầu nhiệm kỳ tỷ lệ thu hút hội viên từ 49,58% tăng lên 64,04%(tăng 14,46%).
Việc duy trì sinh hoạt hội viên theo định kỳ, xây dựng lực lượng hội viên nòng cốt, thu hội phí và xây dựng quỹ hội được các cấp hội chỉ đạo chặt chẽ. Qua kiểm tra đánh giá chất lượng tổ chức hội viên đảm bảo sinh hoạt đạt 80%, hội viên nòng cốt chiếm tỷ lệ 18,43%; 100% cơ sở từ xã, phường, thị trấn đến chi tổ hội đều có quỹ hội. Cơ sở hội vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc luôn được quan tâm. Công tác đào tạo cán bộ chuẩn hóa được thực hiện bằng nhiều hình thức. Cán bộ hội các cấp đang theo học các lớp đào tạo nâng cao trình độ để từng bước chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, tham gia các lớp tập huấn và hội nghị chuyên đề về công tác của các ban chuyên môn do Trung ương hội tổ chức hàng năm. Bên cạnh đó, Hội còn tập trung bồi dưỡng, nâng cao kiến thức kỹ năng cho cán bộ chi, tổ hội, động viên để chị em ngày càng gắn bó với công tác hội. Số lượng cán bộ được đào tạo trong nhiệm kỳ tăng gấp mười lần so với nhiệm kỳ trước, vượt chỉ tiêu nghị quyết Đại hội đề ra. Có được kết quả này là do Hội phụ nữ tỉnh đã xác định được tầm quan trọng của công tác đào tạo, chuẩn hóa cán bộ nên đã tham mưu với Tỉnh ủy để phối hợp với Trường Chính trị tỉnh mở được 2 lớp Sơ cấp phụ vận và 1 lớp Trung cấp chính trị - Phụ vận tại tỉnh chủ yếu cho cán bộ nguồn, cơ sở. Công tác kiểm tra việc thực hiện nghị quyết và chấp hành điều lệ hội, kiểm tra hoạt động của tổ chức hội được các cấp hội triển khai thực hiện ngày càng đi vào nề nếp. Hội cũng đã tiến hành khảo sát thực trạng các cơ sở hội trong tỉnh, chú trọng công tác phát triển đảng viên nữ, giới thiệu cán bộ hội viên ưu tú đi học đối tượng Đảng để xem xét kết nạp Đảng. Tỷ lệ đảng viên nữ đầu nhiệm kỳ là 18,45% đến cuối nhiệm kỳ là 23,62% tăng 5,17%. Đội ngũ cán bộ qua đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện và qua hoạt động thực tiễn với sự nỗ lực phấn đấu của bản thân phụ nữ đã trưởng thành, từng bước vươn lên đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới. Nhiều cán bộ hội được tín nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đoàn thể và các tổ chức xã hội. Trong đó, trưởng phó đầu ngành cấp tỉnh là 26 đồng chí, lãnh đạo chủ chốt cấp huyện, thị là 152 đồng chí và cấp xã, phường, thị trấn là 330 đồng chí. Với những kết quả trên, 5 năm qua có 2 chị được đón nhận huân chương lao động, 192 chị được nhận kỷ niệm chương vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ, 166 chị nhận bằng khen của Ủy ban nhân dân tỉnh, Trung ương hội, 546 chị nhận giấy khen của Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh.
Trong nhiệm kỳ hội đã tổ chức triển khai một số hoạt động nhằm thực hiện tốt công tác vận động phụ nữ ở các xã và các huyện biên giới, phổ biến âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch và các loại tội phạm biên giới góp phần đảm bảo an ninh biên giới của tỉnh Bình Phước, tiếp đón và làm việc với phụ nữ Vương quốc Campuchia, tăng cường mối quan hệ đoàn kết hợp tác hữu nghị giữa hai nước góp phần nâng cao vai trò của Hội phụ nữ, đồng thời phối hợp với phụ nữ các tỉnh bạn tổ chức hội thảo để trao đổi thông tin và kinh nghiệm trong công tác đối ngoại. Công tác phối hợp với các ngành ngày càng được mở rộng, tăng cường xã hội hóa hoạt động của hội, chính vì vậy các cấp hội trở thành đối tác tin cậy của nhiều ngành như: Ngân hàng, Y tế, Công an, Biên phòng, Dân số...
Nhìn chung, giai đoạn 2001 - 2005, công tác hội và phong trào phụ nữ  đã có những chuyển biến tích cực, với phương châm chỉ đạo linh hoạt, sáng tạo, chất lượng hiệu quả, phương thức chỉ đạo bám cơ sở, bám mục tiêu toàn diện, dứt điểm, trọng tâm, trọng điểm. Chú trọng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, lồng ghép các mô hình, phối hợp tốt với các ngành có liên quan nên hỗ trợ phong trào phụ nữ có những bước phát triển mới, từng bước đưa Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VII, Nghị quyết Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ IX và Nghị quyết Đại hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh lần thứ VII vào cuộc sống của quần chúng phụ nữ thông qua việc chỉ đạo triển khai thực hiện phong trào thi đua yêu nước và 6 chương trình trọng tâm của hội có tác dụng lớn đối với phụ nữ trong việc giáo dục phẩm chất đạo đức truyền thống, nâng cao kiến thức mọi mặt, chăm lo đời sống sức khỏe, việc làm, giúp phụ nữ phát triển kinh tế có địa chỉ, thực hiện có hiệu quả mô hình gia đình “No ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc”... Tổ chức hội thực sự là nơi đại diện cho các tầng lớp phụ nữ trong tỉnh và thu hút phụ nữ tham gia tổ chức hội ngày càng cao. Các hoạt động của phong trào phụ nữ đã góp phần nâng cao vai trò phụ nữ trong việc phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, thể hiện rõ nét qua việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, con vật nuôi, phát triển doanh nghiệp, đào tạo nghề, giải quyết việc làm cùng với toàn tỉnh thực hiện có hiệu quả mục tiêu xóa đói giảm nghèo. Việc xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc đã tác động lớn đến từng gia đình, gắn với việc xây dựng gia đình văn hóa cơ sở, góp phần ngăn chặn tệ nạn xã hội từ gia đình, chăm sóc sức khỏe, góp phần hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn đó, trong quá trình chỉ đạo và thực hiện, các cấp hội vẫn còn những hạn chế cần khắc phục trên các lĩnh vực như trình độ năng lực cán bộ, hội viên, phụ nữ tuy có bước phát triển, song chưa đáp ứng yêu cầu cần phát triển của xã hội; việc tổng kết đánh giá rút kinh nghiệm và nhân rộng mô hình chưa được quan tâm đúng mức; đề ra nội dung hoạt động nhưng có lúc hướng dẫn chỉ đạo chưa cụ thể, thời gian thực hiện quá gấp nên chất lượng hoạt động chưa cao; nhận thức của xã hội và chính phụ nữ về bình đẳng giới còn những hạn chế nhất định. Tỷ lệ lao động nữ qua các lớp đào tạo và tỉ lệ cán bộ nữ tham gia vào công tác quản lý, lãnh đạo ở các cấp còn thấp. Công tác tuyên truyền, bồi dưỡng kiến thức cho phụ nữ vùng dân tộc, vùng sâu, vùng xa, lao động nữ trong các doanh nghiệp và phụ nữ tiểu thương chưa thường xuyên, đều khắp. Một số chị em phụ nữ chưa tích cực phấn đấu vươn lên trong học tập, công tác, tham gia phòng chống các tệ nạn xã hội. Khả năng tổ chức, quản lý điều hành và tuyên truyền của một số cán bộ hội, nhất là cơ sở còn hạn chế.
ập
 

Thư viện Video

Loading the player...

Thư viện Hình ảnh

Chuyên mục

....