TÀI LIỆU TUYÊN TRUYỀN KỶ NIỆM 45 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG TỈNH BÌNH PHƯỚC (23/3/1975-23/3/2020)

Thứ tư - 18/03/2020 09:23 701 0
TÀI LIỆU TUYÊN TRUYỀN KỶ NIỆM 45 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG TỈNH BÌNH PHƯỚC (23/3/1975-23/3/2020)
I. Những bước phát triển của phong trào cách mạng tỉnh Bình Phước trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước tiến tới ngày giải phóng tỉnh (23/3/1975)
1. Phong trào đấu tranh của Đảng bộ và Nhân dân Bình Phước trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
a. 
Giữ gìn và phát triển lực lượng cách mạng, đấu tranh chống địch gom dân lập ấp chiến lược (1954-1965)
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, đế quốc Mỹ thực hiện âm mưu thôn tính Việt Nam nhằm khống chế vùng Đông Nam Á. Mỹ - Diệm trắng trợn phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ, âm mưu chia cắt lâu dài hai miền Nam - Bắc, thôn tính miền Nam, biến miền Nam thành căn cứ quân sự và thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Với chính sách “tố cộng”, “diệt cộng” đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật với Luật 10/1959... địch không từ một thủ đoạn tàn bạo, dã man nào để đánh phá cách mạng miền Nam, thẳng tay trả thù, sát hại Nhân dân yêu nước và những người kháng chiến cũ. Đây là thời kỳ đen tối của cách mạng miền Nam, phong trào cách mạng bị tổn thất nặng nề.
Trong những năm tháng đó, mặc dù tổ chức đảng bị địch đánh phá ác liệt, nhưng bằng phương pháp hoạt động vừa bí mật, vừa công khai, hệ thống các cơ sở đảng vẫn được duy trì và tiếp tục lãnh đạo phong trào đấu tranh của Nhân dân. Địa bàn Hớn Quản (tỉnh Bình Long) là một trong những địa phương tiếp thu nhạy bén “Đề cương cách mạng miền Nam” và Nghị quyết của Xứ ủy, sớm có tổ chức và hoạt động vũ trang hỗ trợ cho phong trào quần chúng.
Thực hiện Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng (khóa II, Đảng bộ và Nhân dân Bình Long và Phước Long, từ thế giữ gìn lực lượng, đấu tranh chính trị đơn thuần chuyển sang thế tiến công, đấu tranh chính trị, vũ trang song song kết hợp với phương châm 3 mũi giáp công (quân sự, chính trị, binh vận). Sự hình thành Đảng bộ Bình Long và Phước Long cùng với hệ thống cấp ủy ở cơ sở và việc khai thông đoạn cuối hành lang chiến lược Bắc - Nam trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn này có vai trò quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng của địa phương hai tỉnh.
Với truyền thống yêu nước, đoàn kết, Đảng bộ Bình Long và Phước Long lãnh đạo Nhân dân hai tỉnh đã chiến đấu quyết liệt và liên tục trên mặt trận chống phá chương trình bình định, càn quét gom dân, lập ấp chiến lược của địch, tạo địa bàn đứng chân cho quân chủ lực, phục vụ cho yêu cầu căn cứ chiến lược và các nhiệm vụ chính trị của Trung ương Cục giao cho, xây dựng vùng bàn đạp tấn công Sài Gòn, sào huyệt cuối cùng của đế quốc Mỹ và tay sai.
Nổi bật là chiến dịch Phước Long - Bình Long 1965, mà trọng điểm là Phước Long - Đồng Xoài. Sau 64 ngày đêm chiến đấu quyết liệt, bộ đội chủ lực và địa phương đã phá hàng loạt ấp chiến lược, dinh điền của địch, giải phóng trên 5 vạn dân. Chiến thắng Phước Long - Đồng Xoài cùng với chiến thắng Bình Giã, Ba Gia và nhiều nơi khác trên chiến trường miền Nam, đã góp phần làm thất bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ - Ngụy, buộc đế quốc Mỹ phải bị động chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ”, ồ ạt đưa quân Mỹ và quân chư hầu vào tham chiến miền Nam (Việt Nam).
b. Đảng bộ và Nhân dân Bình Phước vượt qua khó khăn, đẩy mạnh tiến công địch, giải phóng quê hương (1965 -1975)
Sau hơn ba năm đương đầu với Mỹ - Ngụy trong “chiến tranh cục bộ” đầy ác liệt, gian khổ và hy sinh, Đảng bộ và Nhân dân hai tỉnh Bình Long và Phước Long luôn giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, ra sức xây dựng lực lượng cả về quân sự và chính trị, giữ vững thế tiến công và liên tục tiến công, cùng quân và dân Đông Nam bộ và cả miền Nam, góp phần bẻ gãy hai gọng kềm “tìm diệt và bình định”, đánh bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965 - 1966 và 1966 - 1967 của Mỹ - Ngụy.
Dưới sự lãnh đạo của Trung ương và của Đảng bộ, quân và dân hai tỉnh Bình Long và Phước Long đã cùng lực lượng của Khu 10 và của Miền, tấn công vào Tiểu khu Bình Long, Phước Long và các chi khu khác, phát động quần chúng nổi dậy, góp phần cùng quân và dân miền Nam thực hiện cuộc tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đồng loạt tấn công vào sào huyệt và căn cứ của Mỹ - Ngụy khắp miền Nam, giành thắng lợi vang dội.
Tuy nhiên cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa kéo dài không đạt được mục tiêu chiến lược của Đảng đề ra từ đầu, lực lượng vũ trang, chính trị của ta có tổn thất lớn, nhưng thắng lợi của ta đã gây một tác động chính trị rất lớn trên thế giới và ngay chính bản thân nước Mỹ, góp phần làm thất bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải tính đến chuyện “xuống thang chiến tranh” và chịu ngồi vào bàn đàm phán tại Paris (Pháp). Sau năm Mậu Thân 1968, Mỹ - Ngụy chuyển dần chiến lược “chiến tranh cục bộ” sang chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” với kế hoạch “quét và giữ” kết hợp các chương trình bình định cấp tốc, bình định đặc biệt... Ở hai tỉnh Bình Long và Phước Long, chúng tăng cường càn quét đánh phá sâu vào vùng căn cứ, vùng giải phóng, ráo riết gom dân lập ấp chiến lược bằng nhiều phương tiện và hành động cực kỳ tàn bạo, kể cả B52 và chất độc màu da cam cùng với triệt để bao vây kinh tế.
Có thể nói, năm 1969 và những tháng đầu năm 1970 là thời kỳ cách mạng miền Nam trải qua ác liệt và khó khăn gay gắt nhất, nhưng đây cũng là thời kỳ quân và dân hai tỉnh Bình Long và Phước Long tỏ rõ tinh thần cách mạng, anh dũng kiên cường vượt qua mọi khó khăn thử thách, bám trụ chiến trường, tiếp tục thế tiến công đánh địch, duy trì cơ sở, khôi phục phong trào, từng bước tạo thế, tạo lực và phát triển phong trào đấu tranh cách mạng. Cùng với quả đấm chủ lực, quân và dân Bình Phước đã tham gia chiến dịch Nguyễn Huệ hè 1972 giải phóng hoàn toàn các huyện Lộc Ninh, Bù Đốp, Bù Gia Mập và từng mảng ấp chiến lược, mở rộng vùng căn cứ nối liền biên giới Campuchia thành hậu phương trực tiếp của chiến trường B2, góp phần buộc Mỹ phải chịu thất bại trên bàn Hội nghị. Cuối năm 1972, Trung ương Cục quyết định thành lập tỉnh Bình Phước trên cơ sở xác nhập hai tỉnh Bình Long và Phước Long.
Hiệp định Paris được ký kết ngày 27/01/1973, Mỹ chịu rút hết quân viễn chinh và chư hầu, chấm dứt dính líu vào cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam. Lộc Ninh trở thành thủ phủ của Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam. Bình Phước được vinh dự thay mặt Nhân dân miền Nam và cả nước đón những người con chiến thắng từ các nhà tù Mỹ - Ngụy trở về trong niềm thương yêu, xúc động và khâm phục.
Trong chiến cuộc Đông Xuân 1974 - 1975, được sự chi viện của Trung ương và của Miền, quân và dân Bình Phước đã tấn công giải phóng hoàn toàn huyện Bù Đăng ngày 14/12/1974, ngày 26/12/1974 tấn công giải phóng Đồng Xoài, ngày 31/12/1974 tấn công giải phóng hoàn toàn chi khu quận lỵ Phước Bình và đến ngày 06/01/1975, tấn công giải phóng tiểu khu - tỉnh lỵ Phước Long. Chiến thắng Phước Long có ý nghĩa chiến lược quan trọng, lần đầu tiên một tỉnh của miền Nam được hoàn toàn giải phóng, là một đòn trinh sát chiến lược, tạo tiền đề cho Bộ Chính trị, Trung ương có quyết định và hạ quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam trong thời gian sớm. Phát huy thắng lợi ta tiếp tục củng cố vùng giải phóng, đồng thời bao vây, tiêu diệt cụm cứ điểm An Lộc (Bình Long). Nhận thấy không có khả năng tiếp cứu cho nhau và biết nguy cơ bị tiêu diệt, ngày 23/3/1975, địch rút chạy về Chơn Thành, trung tâm tỉnh lỵ An Lộc, tỉnh Bình Long được giải phóng. Ngày 02/4/1975, huyện Chơn Thành là địa phương cuối cùng của tỉnh Bình Long được giải phóng, góp phần cùng quân và dân các tỉnh miền Nam và các binh đoàn chủ lực tiến về giải phóng Sài Gòn vào ngày 30/4/1975, hoàn thành trọn vẹn sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Ngày 15/4/2015, Tỉnh ủy tổ chức Hội nghị lấy ý kiến của các nhân chứng lịch sử, các nhà khoa học và các đồng chí nguyên là lãnh đạo tỉnh để xác định ngày giải phóng tỉnh Bình Phước. Từ tất cả các ý kiến tại Hội nghị, tập thể Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã nghiên cứu, thảo luận nghiêm túc với tinh thần khách quan, khoa học, trách nhiệm với lịch sử. Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã đi đến thống nhất chọn ngày 23/3/1975 - ngày giải phóng quận An Lộc là trung tâm hành chính của tỉnh Bình Long làm ngày GIẢI PHÓNG TỈNH BÌNH PHƯỚC.

Nguyên nhân thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Đảng bộ và Nhân dân Bình Phước
Thứ nhất: Nhờ vào đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam; nghệ thuật lãnh đạo, chỉ đạo tài giỏi của Trung ương Đảng, Xứ ủy Nam bộ, Trung ương Cục miền Nam; sự chi viện giúp đỡ to lớn từ hậu phương lớn miền Bắc và tình đoàn kết chiến đấu của Đảng bộ, quân, dân các tỉnh miền Đông Nam bộ.
Thứ hai: Nhân dân các dân tộc trong tỉnh có lòng trung thành vô hạn, quyết tâm cách mạng cao, có năng lực sáng tạo phong phú, tinh thần phấn đấu hy sinh bền bỉ và ý chí tự lực, tự cường. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, mọi tầng lớp nhân dân không phân biệt Kinh, đồng bào dân tộc, lương, giáo đoàn kết thành một khối, tất cả đều tham gia kháng chiến, vân dụng linh hoạt mọi hình thức và phương pháp đấu tranh, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ.
Thứ ba: Qua rèn luyện thử thách, Đảng bộ tỉnh Bình Phước không ngừng được củng cố, xây dựng và trưởng thành, trở thành hạt nhân lãnh đạo, là bộ tham mưu có kinh nghiệm của phong trào cách mạng, được Nhân dân tin yêu, gắn bó và đùm bọc.
Thứ tư: Lực lượng vũ trang Bình Phước trong kháng chiến bao gồm ba thứ quân từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu, không ngừng được củng cố và trưởng thành, phát huy bản chất tốt đẹp của quân đội cách mạng và truyền thống “Bộ đội cụ Hồ”, trở thành lực lượng nòng cốt của phong trào cách mạng địa phương, góp phần cùng Nhân dân làm nên những chiến công vẻ vang.
  1. Những bài học kinh nghiệm
Thứ nhất là: Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định hàng đầu bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Thứ hai là: Nhân dân và các lực lượng vũ trang tỉnh Bình Phước yêu nước, một lòng đi theo Đảng, đi theo Bác Hồ, chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, bền bỉ, lao động quên mình vì độc lâp tự do của Tổ quốc, vì CNXH và vì quyền con người.
Thứ ba là: Nắm chắc và vận dụng sáng tạo phương châm đấu tranh hai chân ba mũi giáp công, ba vùng chiến lược, xây dựng các đội, mũi công tác bám sát địa bàn, luồn sâu vào các ấp chiến lược, thị trấn, thị xã, phát động và tổ chức quần chúng hành động cách mạng. Xây dựng được lực lượng vũ trang ba thứ quân, công tác binh vận được quán triệt từ Tỉnh ủy đến tận người dân.
Thứ tư là: Tổ chức Đảng luôn được củng cố và phát triển. Các cấp ủy luôn thể hiện sự đoàn kết nhất trí cao trong mọi chủ trương, sâu sát cơ sở, nhạy bén được tình hình, dân chủ bàn bạc công việc, kịp thời giải quyết những vấn đề mới nảy sinh vừa đảm bảo nguyên tắc, vừa phù hợp với tình hình địa phương.
Thứ năm là: Vấn đề xây dựng vùng căn cứ cách mạng phải được thường xuyên quan tâm đúng mức, xuyên suốt trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Thứ sáu là: Sự chi viện của Trung ương, Trung ương Cục miền Nam và các chiến trường bạn làm tăng thêm sức mạnh vật chất, tinh thần và nâng cao trách nhiệm của Nhân dân và Đảng bộ Bình Phước trước phong trào cách mạng cả nước.
II. Những thành tựu nổi bật của tỉnh Bình Phước sau 45 năm Ngày giải phóng
  1. Thành tựu về kinh tế
Sau ngày giải phóng, cơ cấu kinh tế của tỉnh Bình Phước ngày nay chủ yếu là nông - lâm nghiệp, công nghiệp - thương mại - dịch vụ thì quá nhỏ bé, cơ sở hạ tầng thấp kém... Chiến tranh để lại hậu quả nặng nề, ruộng đất bỏ hoang, mô hình kinh tế kế hoạch hóa tâp trung, thêm vào đó là tâm lý nóng vội, chủ quan duy ý chí đã có ảnh hưởng tiêu cực, cản trở sự phát triển kinh tế của tỉnh. Thời kỳ 1986-1996, Sông Bé trở thành một trong những địa phương ghi “dấu ấn” trong công cuộc đổi mới và mở cửa. Sau khi tái lâp tỉnh (năm 1997), nền kinh tế của tỉnh Bình Phước thực sự chuyển mình, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp một cách hợp lý. Các lĩnh vực có sự chuyển biến tích cực, như sau:
Thứ nhất: Nền kinh tế phát triển ổn định, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, các chỉ tiêu về kinh tế - xã hội đều đạt và vượt:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2019 đạt 8,48%, cao hơn bình quân cả nước (tăng trưởng cả nước 6,8%). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. Đến cuối năm 2019, tỷ trọng ngành nông lâm nghiệp, thủy sản chiếm 21,4%; công nghiệp, xây dựng chiếm 40,42%; dịch vụ chiếm 38,18%. Thị trường tín dụng ổn định, khả năng thanh khoản tốt, đảm bảo cung ứng vốn cho nền kinh tế, trong đó, nguồn vốn huy động đảm bảo cho nhu cầu vay đầu tư đạt 33.450 tỷ đồng, tăng 9,46% so với năm 2018; tổng dư nợ cho vay đạt 72.400 tỷ đồng, tăng 18% so với năm 2018; tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp khoảng 0,57% tổng dư nợ.
Tăng trưởng kim ngạch xuất – nhập khẩu tiếp tục duy trì ở mức khá, trong đó, kim ngạch xuất khẩu đạt mục tiêu đề ra là 2.370 triệu USD, tăng 8,02% so với năm
  1. gấp hơn 71 lần so với năm 1997 (năm 1997 là 33.309 USD); kim ngạch nhập khẩu đạt 1.450 triệu USD, tăng 5,43% so với năm 2018.
Các chỉ tiêu cơ bản về kinh tế - xã hội của Nghị quyết HĐND tỉnh đều đạt và vượt kế hoạch đề ra hàng năm. Trong đó, năm 2019 có 07 chỉ tiêu vượt, 16 chỉ tiêu đạt, 01 chỉ tiêu về số doanh nghiệp thành lâp mới đạt 92% so với Nghị quyết.
Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh đạt 9.135 tỷ đồng, gấp 52 lần so với năm 1997. Chi ngân sách địa phương đạt 12.065 tỷ đồng. Thu nhập bình quân đầu người năm 2019 đạt 62 triệu đồng, tăng 24 lần so với năm 1997.
Thứ hai: Kết cấu hạ tầng được đầu tư mạnh mẽ, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội, làm thay đổi diện mạo của tỉnh
Hạ tầng lưới điện tiếp tục được đầu tư phục vụ cho sản xuất công nghiệp, nâng tỷ lệ dân cư sử dụng điện đạt 98,8%, năng lượng mới tiếp tục được quan tâm. Trong năm 2019, UBND tỉnh đã phê duyệt, bổ sung quy hoạch điện năng lượng mặt trời đối với các dự án, như: 05 nhà máy điện mặt trời Lộc Ninh 1,2,3,4,5 và nhà máy điện mặt trời Thác Mơ, dự kiến sẽ đưa vào hoạt động quý I/2020 khoảng 200 MWp. Đường điện truyền tải 220 KV Lộc Tấn - Trạm Bình Long 2 kết nối với lưới điện quốc gia dự kiến hoàn thành quý I năm 2020.
Hạ tầng các khu công nghiệp tiếp tục được đầu tư, mở rộng. Toàn tỉnh có 11 khu công nghiệp đã thu hút được nhà đầu tư thứ cấp vào hoạt động. Tỷ lệ lấp đầy bình quân 30,22%, trong đó, có nhiều khu tỷ lệ lấp đầy cao, như: KCN Bắc Đồng Phú 100%, KCN Nam Đồng Phú 100%, KCN Đồng Xoài I là 100%, KCN Chơn Thành II là 100%, KCN Minh Hưng - Hàn Quốc 100%, KCN Chơn Thành I là 98%, KCN Minh Hưng III là 97,1%... Khu kinh tế cửa khẩu Hoa Lư đã thu hút được 73 nhà đầu tư, thuận chủ trương giao đất để thực hiện dự án với tổng diện tích là hơn 2.196 ha, trong đó có 03 nhà đầu tư kinh doanh hạ tầng được giao 1.129 ha.
Lĩnh vực dịch vụ tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao, cung cầu các mặt hàng vật tư quan trọng và hàng tiêu dùng thiết yếu trong tỉnh được đảm bảo, tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 52.000 tỷ đồng. Đóng góp của các ngành dịch vụ vào tăng trưởng kinh tế của địa phương ngày càng tăng như lĩnh vực ngân hàng, du lịch, bưu chính, viễn thông, thương mại điện tử...(lĩnh vực bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin đã đóng góp tích cực trong việc xây dựng chính quyền điện tử tại tỉnh). Ngành du lịch đã phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc tại địa phương, mạng lưới cơ sở hạ tầng phát triển du lịch tiếp tục được đầu tư xây dựng, như: Khu du lịch tâm linh núi Bà Rá, khu du lịch Tà Thiết đã hoàn thiện một số hạng mục cơ sở hạ tầng và đi vào hoạt động. Riêng năm 2019, các khu du lịch trên địa bàn tỉnh đã thu hút được 933.000 lượt khách tham quan, trong đó khách nội địa 900 ngàn lượt khách, khách quốc tế 33 ngàn lượt khách, đạt 266% so với kế hoạch năm; doanh thu đạt 590 tỷ đồng, đạt 147% so với kế hoạch năm.
Chương trình Mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới có nhiều khởi sắc, nhiều công việc rất khó đã đạt được kết quả nổi bật, vượt cả sự mong đợi. Trong năm 2019, đã có 13/13 xã về đích nông thôn mới, đã xây dựng và hoàn thành 1.000 km đường giao thông nông thôn. Tính đến tháng 3/2020, toàn tỉnh có 48/90 xã hoàn thành nông thôn mới, đạt tỷ lệ 53,3%, có 02 thị xã Bình Long, Phước Long và thành phố Đồng Xoài hoàn thành nông thôn mới (vượt chỉ tiêu của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ X đề ra là có 50% xã và 01 huyện hoàn thành nông thôn mới). Những kết quả trên đã làm thay đổi rõ rệt diện mạo của đời sống xã hội ở nông thôn và lan tỏa khí thế thắng lợi đến các xã đang khẩn trương xây dựng về đích nông thôn mới.
Thứ ba: Môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện, số lượng doanh nghiệp thành lập mới duy trì ở mức tăng khá, số dự án đầu tư nước ngoài tăng cao
Tỉnh tiếp tục tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, trong đó, lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã tổ chức các buổi tiếp doanh nghiệp theo định kỳ, tổ chức các cuộc họp tổ thu hút đầu tư và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Tinh thần khởi nghiệp bước đầu lan tỏa, thành lập các câu lạc bộ khởi nghiệp, gắn với hoạt động hỗ trợ vốn của quỹ khởi nghiệp. Trên địa bàn tỉnh hiện nay có 230 dự án FDI với tổng số vốn đăng ký 2.315 triệu USD và 959 dự án đầu tư trong nước với số vốn đăng ký 82.784 tỷ đồng.
Đến nay, trên địa bàn toàn tỉnh có hơn 7.700 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký 72.056 tỷ đồng; về kinh tế hợp tác có 45 hợp tác xã thành lập mới, đạt 160% kế hoạch năm.
  1. Thành tựu về văn hóa - xã hội
Thứ nhất: Giáo dục - Đào tạo phát triển mạnh mẽ, trình độ dân trí được nâng cao
Năm 1997 tái lập tỉnh, toàn tỉnh thiếu hàng nghìn giáo viên, hàng trăm phòng học. Đến nay, sự nghiệp giáo dục và đào tạo tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đảm bảo cân đối về quy mô, loại hình và nâng cao chất lượng, từng bước được chuẩn hóa. Mạng lưới trường, lớp được quy hoạch và phát triển tập trung, kể cả các điểm lẻ, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, đáp ứng nhu cầu phát triển giáo dục trên địa bàn tỉnh. Tỉnh đã hoàn thành xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học (năm 1998); đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở (năm 2009).
Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục toàn tỉnh đã có 15.300 giáo viên đã đáp ứng được yêu cầu dạy học tại các trường, chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục ngày càng được nâng cao, số giáo viên các bậc học đạt chuẩn trở lên đạt 99,98%. Mạng lưới trường lớp được quy hoạch và phát triển tập trung, đáp ứng nhu cầu phát triển giáo dục trên địa bàn tỉnh. Toàn tỉnh hiện có 435 trường học ở các cấp học với hơn 7.000 phòng học kiên cố và trên 248.000 học sinh. 100% phường, thị trấn, xã đạt chuẩn quốc gia phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; 110/111 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn PCGDTH mức độ 3; duy trì 111/111 xã, phường, thị trấn đạt phổ cập giáo dục trung học cơ sở; 14/111 xã, phường, thị trấn đạt phổ cập THPT. Công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia tiếp tục được quan tâm và đẩy mạnh thực hiện. Đến tháng 3/2020, toàn tỉnh có 141/435 trường được công nhận trường học đạt chuẩn quốc gia chiếm tỷ lệ 32,3%, đạt 100% kế hoạch năm. Trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp quốc gia, khu vực, ngày càng nhiều học sinh của tỉnh tham gia và đạt giải cao, điển hình như: Trong năm học 2018-2019, tại kỳ thi học sinh giỏi THPT cấp quốc gia Bình Phước đạt 49 giải; Cuộc thi Khoa học kỹ thuật cho học sinh trung học cấp tỉnh và tham gia thi cấp toàn quốc đạt 01 giải Nhì, 01 giải Ba, 01 giải Tư. Nổi bật là hai trường THPT chuyên Quang Trung và THPT chuyên Bình Long, nhiều năm liền luôn là trường được xếp vào tốp đầu các trường PTTH chất lượng cao trong cả nước.
Thứ hai: Y tế có nhiều tiến bộ, từng bước hướng đến mục tiêu vì Nhân dân phục vụ: Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe Nhân dân được quan tâm đầu tư phát triển cả chiều rộng và chiều sâu. Bệnh viện Đa khoa tỉnh đang được đầu tư cải tạo, nâng cấp lên quy mô 600 giường bệnh; các bệnh viện tuyến huyện và trạm y tế cấp xã tiếp tục được đầu tư nâng cấp, trang thiết bị từng bước được hiện đại. Cuối năm
  1. tỷ lệ số bác sĩ/vạn dân đạt 8 bác sĩ (năm 2007 có 2,07 bác sĩ/vạn dân), có 28,5 giường bệnh/vạn dân (năm 1997 chỉ có 8,73 giường bệnh/vạn dân), tỷ lệ cơ sở kinh doanh thực phẩm và dịch vụ ăn uống được kiểm tra đạt tiêu chuẩn là 85%, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng là 13,3%, tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt 86,2%, tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ cho trẻ em dưới 1 tuổi đạt 80%. Công tác phòng chống dịch bệnh, các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế được thực hiện tốt, chất lượng chẩn đoán và điều trị ngày càng tốt hơn.
Thứ ba: Nhiều lao động trong tỉnh được đào tạo nghề và giải quyết việc làm: Công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm đạt kết quả khá tốt. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 56% (năm 1997 tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 15% ); tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị giảm từ 4,4% (năm 1997) xuống <3,2% (năm 2019) và tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn tăng từ 83% (năm 1997) lên trên 90% (năm 2019).
Thứ tư: Công tác đối với người có công với đất nước và các nhóm yếu thế được quan tâm, tạo điều kiện vươn lên có cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc:
Công tác xóa đói, giảm nghèo đạt nhiều kết quả tích cực. Tỉnh đã triển khai thực hiện đồng bộ, đầy đủ và kịp thời; phối hợp thực hiện có hiệu quả các chính sách giảm nghèo theo tinh thần của Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững của Chính phủ, như: Hỗ trợ vay vốn ưu đãi tín dụng cho hộ nghèo, cận nghèo, mới thoát nghèo; mua, cấp phát thẻ BHYT cho người nghèo; hỗ trợ tiền, phân bổ nhà tình thương, tư vấn pháp lý miễn phí, thăm tặng quà Tết Nguyên đán hàng năm cho các hộ nghèo, người dân tộc thiểu số. Đến nay, đã có gần 1.200 lượt hộ nghèo đã tiếp cận được vay vốn với số tiền hơn 43 tỷ đồng; có gần 1.400 lượt hộ cận nghèo vay vốn với số tiền gần 40,5 tỷ đồng; hỗ trợ cho hơn 2.100 lượt hộ mới thoát nghèo (dưới 3 năm) với số tiền hơn 81 tỷ đồng; hỗ trợ tiền điện cho hơn 8.600 hộ nghèo với tổng kinh phí là gần 4,2 tỷ đồng. Tỷ lệ hộ đói nghèo toàn tỉnh năm 1997 còn gần 18%, đến năm 2000 đã cơ bản xóa được hộ đói, đến cuối năm 2019, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới tiếp cận đa chiều giảm 0,5%.
Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” có được sự hưởng ứng và đóng góp tích cực của toàn xã hội. Trong năm 2019, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức chính trị - xã hội đã hỗ trợ xây dựng 171 căn nhà Đại đoàn kết cho người nghèo, trị giá gần 12 tỷ đồng; tổ chức thăm, tặng hơn 58 ngàn phần quà cho đối tượng hộ nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội và các đối tượng khác với tổng kinh phí hơn 24,4 tỷ đồng.
Công tác chăm sóc người có công về chế độ, chính sách ưu đãi được thực hiện kịp thời, đúng đối tượng. Đến nay, hầu hết các gia đình chính sách, người có công đều có mức sống khá hơn so với mức sống trung bình ở khu dân cư, không còn hộ nghèo.
Trong năm 2019, đã giải quyết gần 1.500 hồ sơ, tổ chức điều dưỡng tập trung 394 đối tượng người có công với cách mạng; hỗ trợ xây và sửa chữa 26 căn nhà cho đối tượng chính sách người công với cách mạng với tổng kinh phí là hơn 1 tỷ đồng từ nguồn vận động; phục vụ lễ viếng, truy điệu, an táng 68 hài cốt liệt sỹ và dâng hương viếng các anh linh liệt sỹ tại Nghĩa trang liệt sỹ tỉnh. Ngoài ra, nhân dịp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019 và kỷ niệm 72 năm ngày Thương binh, Liệt sĩ đã tổ chức thăm, tặng gần 48 ngàn phần quà cho đối tượng chính sách người có công với cách mạng với tổng kinh phí là 16,47 tỷ đồng. Công tác hỗ trợ về nhà ở, đã thực hiện 701 căn nhà và đang thực hiện 14 căn/715 hộ người có công với cách mạng. Chương trình hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở đã hỗ trợ 483 hộ được vay vốn xây dựng nhà ở, hiện nay đề án đã điều chỉnh bổ sung hỗ trợ 1.537 hộ nghèo (trong đó, có 641 hộ đồng bào dân tộc thiểu số) đủ điều kiện được vay vốn ưu đãi xây dựng nhà ở.
Thứ năm: Lĩnh vực thể dục - thể thao cho mọi người phát triển rộng khắp, đáp ứng cơ bản nhu cầu vui chơi, giải trí và rèn luyện sức khỏe cho Nhân dân
Hoạt động văn hóa, thể dục thể thao cho mọi người phát triển rộng khắp, đáp ứng cơ bản nhu cầu vui chơi, giải trí và rèn luyện sức khỏe cho Nhân dân. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” phát triển rộng và ngày càng đi vào chiều sâu. Toàn tỉnh có trên 92% số hộ gia đình được công nhận gia đình văn hóa, hơn 60% khu dân cư được công nhận văn hóa. Những lễ hội, nhất là các lễ hội truyền thống của đồng bào Stiêng, Khơme, Mơnông... được phục dựng. Các di tích lịch sử, văn hóa cấp tỉnh và quốc gia được trùng tu, xây dựng và phát huy tác dụng giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ. 100% thôn (ấp) đồng bào dân tộc thiểu số có nhà văn hóa cộng đồng; đặc biệt, tỉnh đã khánh thành giai đoạn 1 Khu bảo tồn văn hóa dân tộc Stiêng Sóc Bom Bo và dự án Di tích Quốc gia đặc biệt Bộ Chỉ huy Miền (Tà Thiết). Phong trào thể dục thể thao quần chúng phát triển rộng khắp. 60% số xã, phường, thị trấn có các đội, nhóm thường xuyên tập luyện thể dục thể thao. Thể thao chuyên nghiệp thành tích cao được quan tâm đầu tư, có kết quả tích cực.
3. Thành tựu về quốc phòng - an ninh và đối ngoại
Thứ nhất: Quốc phòng - an ninh được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm: Quốc phòng - an ninh của tỉnh luôn được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; quan hệ đối ngoại rộng mở. Tiềm lực quốc phòng - an ninh và thế trận quốc phòng toàn dân được tăng cường. Khu vực phòng thủ được xây dựng đi vào chiều sâu vững chắc, sức mạnh tổng hợp và khả năng sẵn sàng chiến đấu tăng lên, an ninh trên tuyến biên giới luôn đảm bảo. Tội phạm được kiềm chế, triệt phá nhiều vụ án phức tạp, nhiều băng nhóm tội phạm, ma túy, trộm cắp tài sản; tai nạn giao thông từng bước giảm cả 3 tiêu chí. Tỷ lệ thanh niên nhập ngũ hàng năm đều đạt 100% chỉ tiêu, trong đó tỷ lệ đảng viên, đoàn viên ngày càng tăng. Cán bộ, đảng viên và Nhân dân trong tỉnh có tinh thần cảnh giác cao trước các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch.
Thứ hai: Quan hệ đối ngoại được mở rộng, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế: Quan hệ hợp tác, giao lưu hữu nghị giữa tỉnh Bình Phước với các tỉnh giáp biên giới thuộc Vương quốc Campuchia không ngừng được củng cố, tăng cường và ngày càng phát triển tốt đẹp. Đến ngày 30/11/2012, Bình Phước là tỉnh đầu tiên trong cả nước có đường biên giới với Vương quốc Campuchia hoàn thành công tác phân giới, cắm mốc. Hiện nay, tỉnh đang tiến hành tăng dày hệ thống cột mốc phụ trên toàn tuyến biên giới của tỉnh tiếp giáp với các tỉnh của Vương quốc Campuchia. Công tác tìm kiếm, cất bốc hài cốt quân tình nguyện Việt Nam hy sinh trên chiến trường Campuchia được tỉnh đặc biệt quan tâm. Mối quan hệ giao lưu, hợp tác giữa tỉnh Bình Phước với các nước bạn Nhật Bản, Israel, Hà Lan, Bờ Biển Ngà được mở rộng trực tiếp qua việc tìm hiểu cơ hội kinh doanh, thăm và học tập kinh nghiệm, hỗ trợ nhân đạo, trao đổi kiến thức khoa học. Tỉnh đã ký kết được chương trình hợp tác phát triển kinh tế - xã hội với thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Tây Ninh, để trao đổi kinh nghiệm, hợp tác phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, thu hút đầu tư.
  1. Thành tựu vê công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị
Thứ nhất: Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng không ngừng củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động: Công tác quán triệt, tuyên truyền, học tập và tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận của Trung ương; sơ kết, tổng kết các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, của tỉnh đảm bảo chất lượng; chủ động nắm tình hình tư tưởng, định hướng dư luận xã hội; đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước, của tỉnh; đấu tranh phản bác âm mưu, thủ đoạn, tuyên truyền của các thế lực thù địch chống phá Đảng, Nhà nước. Kịp thời, ban hành và triển khai kế hoạch thực hiện Chỉ thị 35-CT/TW của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020- 2025, thành lập các tiểu ban chuẩn bị đại hội; thực hiện chặt chẽ, minh bạch công tác cán bộ, đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; thường xuyên nắm tình hình cơ sở, đôn đốc các đảng bộ thực hiện tốt kế hoạch nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, kết nạp đảng viên. Từ chỗ toàn Đảng bộ tỉnh chỉ có 356 tổ chức cơ sở Đảng với gần 8.500 đảng viên, đến nay, toàn Đảng bộ tỉnh có 21 Đảng bộ trực thuộc, 764 tổ chức cơ sở đảng với hơn 36.000 đảng viên.
Thứ hai: Việc sắp xếp, kiện toàn hệ thống chính trị và tổ chức bộ máy đạt những kết quả tích cực: Sau 02 năm thực hiện, toàn tỉnh hiện đã giảm được 138 đầu mối cấp phòng, giảm 210 lãnh đạo các cấp và 1.845 biên chế. Đối với đơn vị sự nghiệp công lập, giảm 03 đơn vị cấp tỉnh, 21 đơn vị thuộc sở, 40 đơn vị trực thuộc UBND cấp huyện. Hợp nhất Báo Bình Phước và Đài PT-TH Bình Phước, 3 Ban quản lý dự án cấp tỉnh, Đảng bộ Khối cơ quan và Đảng bộ Khối doanh nghiệp; sáp nhập 3 trường cao đẳng Nghề, Sư phạm, Y tế thành Trường Cao đẳng Nghề Bình Phước. Thực hiện kiêm nhiệm nhiều chức danh lãnh đạo, quản lý từ thôn, ấp, khu phố đến các cơ quan cấp tỉnh.
Thứ ba: Chất lượng, hiệu quả kiểm tra, giám sát được nâng lên: Thực hiện có hiệu quả công tác dân vận của Đảng, dân vận chính quyền, thiết thực phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương; chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở và hoạt động của MTTQ và các đoàn thể tiếp tục được nâng lên.
Thứ tư: Công tác nội chính và phòng, chống tham nhũng, lãng phí được thực hiện có hiệu quả, kịp thời nắm bắt và xử lý hiệu quả các vụ việc liên quan đến an ninh, trật tự, các vụ án tham nhũng.
Thứ năm: Công tác cải cách hành chính được đẩy mạnh theo tinh thần phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu của Nhân dân và doanh nghiệp. Trong năm 2019, Trung tâm Phục vụ hành chính công của tỉnh đã tiếp nhận gần 70 ngàn hồ sơ, đã giải quyết trước hạn và đúng hạn được hơn 67.400 hồ sơ, đạt tỷ lệ 96%.
Phát huy truyền thống cách mạng và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc qua 45 năm giải phóng tỉnh Bình Phước, trong giai đoạn mới, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân Bình Phước quyết tâm phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ X, chuẩn bị tốt các điều kiện để tổ chức thành công Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vì một Bình Phước đổi mới, hội nhập và phát triển.

                                                                                                                                                                                                   
 
[1] Ra đời vào tháng 01/1959.

Nguồn tin: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Công văn số: 1244/BTV

CV V/v triển khai sự kiện "Tử tế vì môi trường" hưởng ứng Chiến dịch làm thế giới sạch hơn năm 2020

lượt xem: 16 | lượt tải:6

Công văn số: 1223/BTV

CV V/v gửi tài liệu tuyên truyền kỷ niệm 75 năm Quốc khánh nước CHXHCN Việt Nam

lượt xem: 39 | lượt tải:16

Công văn số: 1217/BTV

CV V/v gửi đề cương tuyên truyền 90 năm Ngày truyền thống Dân vận của Đảng, 90 năm Ngày thành lập Hội Nông dân Việt Nam

lượt xem: 39 | lượt tải:20

Công văn số 1064/BTV

Công văn về việc khai thác bộ tài liệu tuyên truyền, phổ biến nội dung Công ước chống tra tấn, và các quy định của pháp luật Việt Nam về phòng, chống tra tấn

lượt xem: 190 | lượt tải:242

Công văn số 1057/BTV

Công văn triền khai cuộc thi viết Mô hình tiêu biểu, điển hình tiên tiến xuất sắc, gương người tốt việc tốt

lượt xem: 146 | lượt tải:51
Liên kết
Thăm dò ý kiến

Bạn biết đến website này qua phương thức nào?

Thống kê
  • Đang truy cập4
  • Hôm nay1,336
  • Tháng hiện tại62,711
  • Tổng lượt truy cập1,261,211
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây